Tên cây lan 2 (Nguyễn Thiện Tịch – Lan Việt Nam – P4)

Tên cây lan 2

HỌ PHỤ I APOSTASIOIDEAE.

Đặc điểm của nhóm lan này là có thân hơi cứng nhưng không to mập, thường khá cao, đôi khi phân nhánh: phần gốc có thể bò trên mặt đất ít nhiều và nhánh mới thường mọc thẳng đứng từ phần bò này. Phần gốc thường mang rễ nạng đế chống đỡ cho thân đứng. Lá nhiều, khá lớn, có gân xếp dọc. Phát hoa ở tận ngọn, mang nhiều hoa nhỏ. Gồm 2 giống, có thế phân biệt:

– Phát hoa không phân nhánh. Hoa có 3 bao phấn …………………… Neuwiedia.

– Phát hoa có nhánh cong ngửa. Hoa có 2 bao phấn ………………… Apostasia.

NEUWIEDIA BLUME.

Đặc điểm của giống này là cây đứng, thường không có nhánh và không cao lắm, lá ít hay nhiều – Phát hoa ở ngọn, đứng trên cán dài hay ngắn – Lá hoa dễ nhận – Lá đài và cánh hoa dài 6 – 20mm, đỉnh hẹp, ngắn, gần như bằng nhau. Môi hơi rộng hơn 2 cánh hoa, thường có sóng giữa nổi lên ở mặt sau. Trụ ngắn, mang 3 tua nhụy gắn vào đáy của bao phấn. Trái hoặc là nang hoặc là phì quả. Có tất cả khoảng 8 loài trên thế giới. Ở Việt Nam có 4 loài, có thể nhận ra như sau:

1a. Phát hoa không lông. Hoa cỡ 30mm, màu vàng ………………..–> 1 N. annamensis.

1b. Phát hoa có lông ………………. 2.

2a. Lông không có tuyến. Hoa dài đến 22mm, màu trắng ………………..–> 2 N. griffithii.

2b. Lông có tuyến, nhất là ở bao hoa ………………… 3.

3a. Hoa dài cỡ 15mm, bao phấn tròn dài, trụ dài cỡ 1mm. Hoa màu trắng ……………….–> 3 N. inae.

3b. Hoa dài hơn 22mm, bao phấn thon cho đến dài, trụ tối thiểu cũng dài 4mm. Hoa màu vàng nhạt ……………..–> 4 N. singapureana.

1. Neuwiedia annamensis Gagnep. 1933: 350; – 1934: 649; De Vogel 1969: 328; Phạm Hoàng Hộ 1972: 997; Averynov 1988: 13. – 1990: 124; Seideniaden 1992: 11. Phạm Hoàng Hộ 1993: 944; – 1994: 719.

Địa lan có thân bò, cao đến 30 – 40cm; rễ dài, to, phân nhánh và có lông. Lá thon, có mũi nhọn dài ở đỉnh, hẹp dần ở đáy, dài 20 – 30cm, rộng cỡ 2cm, có 5 – 7 gân chính, lộ ra ở mặt dưới, cuống dài 4 – 6cm với 5 gân lớn. Phát hoa ở ngọn, cao 30cm mang các lá nhỏ dần, các lá trên cùng chỉ dài 10cm, rộng 1cm, không cọng, và tiếp tục là các lá màu lục, hình xoan nhọn, dựng đứng, dài 5 – 2,5cm. Các lá hoa thật sự, xoan nhọn, nằm ngả ra ít nhiều, dài 1 – 2cm, rất bóng láng, có cọng 5mm. Hoa vàng, 3 tiểu nhụy có tua nhụy dính nhau và gắn vào đáy của vòi nhụy. Trái là nang, màu trắng, 3 cạnh, to cỡ 5mm dài 3cm, bóng láng; rất nhiều hột nhỏ, màu đen.

Hiện diện: Khánh Hòa (Núi Han Heo, Bình Lợi – gần Nha Trang).

Phân bố: Đặc hữu Việt Nam.

Loài này chỉ được Poilane tìm thấy 2 lần ở vùng núi Han Heo gần Nha Trang nên cần được thu mẫu thêm.

Neuwiedia annamensis hình của GS. Phạm Hoàng Hộ
Neuwiedia annamensis (Hình của GS. Phạm Hoàng Hộ).

2. Neuwiedia griffithii Reichenb. f. 1874: 215; Hook. f. 1890: 176; Holttum 1964: 64; De Vogel 1969: 324; Averyanov 1988d: 894; – 1988g: 14; – 1990: 124; Seidenfaden 1992: 11; Phạm Hoàng Hộ 1993: 944; – 1994: 719.

Địa lan, thân cao 20 – 30cm, gốc cây đôi khi bò. Phiến lá dài 25cm rộng 4cm, cọng và bẹ cỡ 8cm. Phát hoa không cao hơn lá, cán hoa rất ngắn,phần mang hoa cỡ 10 – 12cm có lông. Lá bắc màu lục, có lông nhất là ở mép, dài 15 – 17mm. Hoa trắng. Lá đài và cánh hoa dài 6 – 8mm, 3 tiểu nhụy thấp hơn nướm; gắn vào cỡ 1/3 bên dưới của vòi. Cọng và bầu noãn dài cỡ 8mm, có lông mịn. Trái là nang, có lông, dài cỡ 7mm. Hột nhỏ, nhiều.

Hiện diện: Quảng Ninh, cẩm Phả, Cộng Hòa.

Phân bố: Malaysia, Sumatra.

Neuwiedia griffithii sử dụng hình của Bot. Mag
Neuwiedia griffithii sử dụng hình của Bot. Mag
Neuwiedia griffithii (Sử dụng hình của Bot. Mag).

3. Neuwiedia inae De Vogel 1969: 323. Averyanov 1988d: 895; – 1988g: 14; – 1990: 124; Seidenfaden 1992: 13; Phạm Hoàng Hộ 1993: 944; – 1994: 719.

Địa lan, cao đến 55cm, lá có phiến xếp dọc, dài đến 40cm rộng 4,7cm, có lông. Phát hoa giữa thân, nhiều hoa. Hoa trắng, cao cỡ 1,5cm. Lá đài và cánh hoa gần giống nhau, dài cỡ 6,5mm. 3 tiểu nhụy thụ có bao phấn tròn dài. Trụ cao 1mm.

Hiện diện: Gia Lai – Kontum. (Dakto).

Phân bố: Borneo.

Neuwiedia inae hình của GS. Phạm Hoàng Hộ.
Neuwiedia inae (Hình của GS. Phạm Hoàng Hộ).

4. Neuwiedia singapureana (Baker) Rolfe 1907: 412;

– Holttum 1964: 64; Chen + Lang 1986b: 346: Averyanov 1988: 14; – 1990: 125; Phạm Hoàng Hộ 1993: 945; – 1994: 720.

– Tupistra singapureana Baker 1874: 581; – 1832: 5195, nom. nud.

– Neuwiedia curtisii Rolfe 1889b: 233; Hook. f. 1890: 175. Neuwiedia ocrea Ridl. 1922c: 308.

– Neuwiedia balansae H. Bn. ex. Gagnep. 1933: 350; — 1934: 649.

– Neuwiedia zollingeri Reichenb. f. var. singapureana (Beker) De Vogel 1969: 331; Lasen + De Vogel 1972: 132; Seidenfaden 1992: 13.

Địa lan, cây cao cỡ 10 — 40cm mang nhiều lá và rễ. Lá thon, nhọn hai đầu; phiến dài 15 – 30cm rộng 3 – 8cm; cuống và bẹ dài 7 – 12cm. Phát hoa ở chót thân; cán hoa 7 – 8cm với vài lá nhỏ chồng lên nhau ở gốc; phần hoa cỡ 12cm, có lông ngắn dày, cả lá bắc và nụ hoa cũng đầy lông; lá bắc dài cỡ 2cm. Hoa màu vàng nhạt. Lá đài và cánh hoa cỡ 17 – 20mm, cánh hoa hơi rộng hơn lá đài. 3 tiểu nhụy gắn trên trụ, bao phấn dài bằng nướm. Cọng và bầu noãn dài 1cm. Trái mọng, màu cam.

Neuwiedia singapureana Hình của Gagnepain N. balansae
Neuwiedia singapureana (Hình của Gagnepain) (N. balansae).

Neuwiedia singapureana mẫu vật ở Daklak
Neuwiedia singapureana (Mẫu vật ở Daklak).

Loài này còn nghi ngờ về sự định danh vì mẫu vật của Balansae thu ở núi Ba Vì có hoa màu trắng và lớn hơn, còn mẫu vật do Evrard và Poilane lấy ở Sông Cầu thì chỉ có trái mà trái lại nhỏ hơn, lá hoa hơi rộng hơn.

Mẫu vật mà chúng tôi thu được ở Daklak thì lại có hoa màu vàng tươi. Chúng được mô tả như sau:

Thân cây gồm nhiều đơn vị nối tiếp nhau: sau khi ra hoa, ở nách lá bên dưới sẽ cho 1 – (2 – 3) chồi, tiếp tục mọc đứng lên cao 10 – 15cm mang lá bên trên, bên dưới có vài rễ nạng cứng. Phần thân già bên dưới không còn lá chỉ có xơ do bẹ, nằm gần ngang mặt đất với những rễ nạng cứng.

Lá lớn, hẹp nhọn 2 đầu, dài 25 – 45cm rộng 6 – 7cm có 7 – 8 gân dọc, lộ rõ bên dưới. Lá xếp dọc như lan cau diệp, màu lục. Cuống dài 4 – 7cm, có bẹ 2,5cm ôm thân. Phát hoa ngắn hơn lá, ở giữa ngọn, cao cỡ 10 – 12cm với 1 -2 lá nhỏ ở gốc (6 x 2cm) và 3 – 4 lá bắc bất thụ (2,5 x 1,5 – 1cm). Hoa nhiều, xếp khít nhau, màu vàng tươi. Hoa nở hàm tiếu chứ không bung ra – tất cả đều có lông. Lá hoa hẹp nhọn, dài 1,6 – 1,8cm x 0, 4 – 0,5cm đầy lông ở mặt lưng. 3 lá đài cao cỡ 15mm rộng 3,5mm màu vàng, có râu dài 3mm, màu lục (lá đài sau râu ngắn hơn) đầy lông ở mặt ngoài. Cánh hoa to 1,8mm x 5mm có một sóng nổi ở mặt lưng, tận cùng với một râu dài 1,5mm, đầy lông ở trên sóng lưng ấy. Môi 13 x 7mm. Có một sóng nổi to ở mặt trong và cũng có 1 sóng lồi với râu mũi ở mặt lưng. Nhụy đực sau có tua nhụy cao hơn 2 nhụy đực bên bao phấn dài 5mm, tua nhụy đực dài 6mm, 2 nhụy đực bên có bao phấn dài 6mm, tua nhụy dài 4,5mm – 3 tua nhụy dính với vòi nhụy cỡ 2,5mm, vòi nhụy dài gần ngang bằng bao phấn – nướm có 3 thùy. Bầu noãn to 3mm cao 4mm, cọng 2mm, tất cả đều có lông. Mẫu vật: Tịch –

Hiện diện: Hà Nội (Ba Vì), Khánh Hòa, Daklak.

Phân bố: Trung Quốc, Hồng Kông, Thái Lan, Malaysia, Sumatra, Borneo.

APOSTASIA BLUME.

Thân đứng lỏng khỏng, thường phân nhánh, mang lá từ gốc đến ngọn, lá luôn luôn hẹp. Phát hoa ở ngọn, có cọng cứng, thường phân nhánh, các nhánh nhiều ít cong ngửa ra. Lá hoa nhỏ. Lá đài, cánh hoa và môi hầu như bằng nhau, thường trải ra, đôi khi cong lật về sau, 2 nhụy đực thụ với tua nhụy ngắn đính vào gần đáy của bao phấn; bao phấn thường rộng ở đáy, nhọn ở đỉnh, thường ép sát vào vòi nhụy. Có nhụy lép hay không, thường gắn với vòi nhụy ở bên trên chỗ gắn của hai nhụy đực thụ và đỉnh ngắn, rời ra. Nướm nhỏ, không có thùy rõ rệt. Bầu noãn và trái mảnh mai, không cọng.

Giống này có khoảng 7 loài. Ở Việt Nam có 3 loài, có thể phân biệt như sau:

1a. Nhụy lép dính khá nhiều vào vòi nhụy, tua nhụy gắn vào lưng bao phấn. Trái dài hơn 2cm ………………. 2.

1b. Không có nhụy lép. Tua nhụy gắn ở gần đáy của bao phấn. Trái ngắn hơn 2cm …………………–> 1 Apostasia nuda.

2a. Lá rộng 10mm. Lá đài dài khoảng 5,5mm. Trụ không có cánh ở dưới nhụy lép ………………..–> 2 Apostasia wallichii.

2b. Lá rộng hơn 15mm. Lá đài dài khoảng 9mm. Trụ có cánh kéo dài dọc theo bên dưới nhụy lép ………………..–> 3 Apostasia odorata.

1. Apostasia nuda R. Br. 1830: 76; Hook. f. 1890: 175; Gagnep. 1934: 650; Holttum 1964: 66; De Vogel 1969: 346; Larsen + De Vogel 1972: 137; Phạm Hoàng Hộ 1972: 997; Bân + Huyên 1984: 195; Seidenf. 1992: 15; Phạm Hoàng Hộ 1993: 943;- 1994: 718.

– Apostasia brunonis Griff. 1851: 234; Backer + Bakhuisen 1968: 211.

– Apostasia lobii Reichenb. f. 1872: 278.

– Adactylus nudus (R. Br.) Rolfe 1896b: 329.

– Adactylus nudus (R. Br.) Rolfe var. valida Blume ex. Siebe 1903: 29, 45, 59.

– Adactylus brunonis (Griff.) Cretz. 1941: 407.

– Apostasia odorata auct. non Blume: Lindl. 1846: 184.

Địa lan, cao 30 – 50cm. Lá thay đổi, đôi khi dài 15cm, rộng 0,6cm, đôi khi dài 30cm rộng 1cm. Phát hoa ở ngọn với vài nhánh ở nách các lá ngắn ở gần ngọn. Gốc của các nhánh ấy có nhiều lá bắc hẹp phủ chồng lên nhau. Hoa vàng hay trắng. Lá đài và cánh hoa dài cỡ 4mm, cuộn về sau. Nhụy đực dính nhau có tua nhụy rất ngắn; bao phấn rộng đều ở đáy, hẹp dần bên trên, áp vào trụ và dính nhau dọc mép trong của chúng; vòi mảnh khảnh; nướm nhỏ; không có nhụy lép. Bầu noãn dài 8mm. Trái dài đến 1,2cm.

Hiện diện: Lâm Đồng (Đà Lạt), Đồng Nai, Phú Quốc.

Phân bố: Myanmar, Thái Lan, Malaysia, Sumatra, Indonesia, Peninsula, Java, Kalimantan.

Aposiasia nuda hình của GS. Phạm Hoàng Hộ
Aposiasia nuda (Hình của GS. Phạm Hoàng Hộ).

2. Apostasia ivallichii R. Br. 1830: 75, T84; – Hook. f. 1890: 175; Gagnep. 1934: 651; Holttum 1964: 65; Backer + Bakhuizen 1968: 211; De Vogel 1969: 338; Larsen + De Vogel 1972: 135; Chen + Lang 1986b: 348; Averyanov. 1988f: 21; -1900: 26; Seidenfaden 1992: 13; Phạm Hoàng Hộ 1993: 944; – 1994: 719.

– Mesodactylis deflexa Wall. 1830: 74, nom. nud.

– Niemeyera stylidioides F. Muell. 1867: 96.

– Apostasia stylidioides (F. Muell) Reichenb. f. 1872: 278.

– A. gracilis Rolfe 1889b: 242.

– A. alba Rolfe 1896b: 329.

– A. papuana Schlechter 1905: 72.

– A. curvata J. J. Smith 1927b: 11.

– A. wallichii R. Br. var. seraweienss J. J. Smith 1927b: 10.

Địa lan, cao 20 – 30cm, thường phân nhánh; nhiều lá, lá dài 22cm rộng 0,7 – 1cm. Phát hoa phân nhánh, nhánh ngửa ra, dài khoảng 5cm; lá bắc dài 3mm. Lá đài và cánh hoa trải căng ra, dài khoảng 5,5mm, màu vàng. 2 nhụy đực thụ có tua nhụy dài 1mm, gắn vào mặt sau của bao phấn ngay ở trên đáy của nó, đáy không đều, đỉnh hầu như chạy dài đến nướm; nhụy lép ngắn, mập, nằm cách không xa bên dưới nướm. Gốc của trụ phần dưới nơi gắn của nhụy đực dài khoảng 11mm, phần còn lại dài khoảng 4mm. Bầu noãn dài 1,2 – 1,5cm, khi thành trái dài đến 2,5cm.

Hiện diện: Hà Nội (núi Ba Vì) Quảng Nam – Đà Nắng (Bà Na), Khánh Hòa (Nha Trang) Lâm Đồng (Lạc Dương, Đơn Dương).

Phân bố: Ấn Độ, Nepal, Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia, Malaysia, Philippine, Indonesia, Úc.

Aposiasia wallichii Mẫu ở Lạc Dương
Aposiasia wallichii (Mẫu ở Lạc Dương).

Aposiasia odorata Hình của GS. Phạm Hoàng Hộ
Aposiasia odorata (Hình của GS. Phạm Hoàng Hộ).

3. Apostasia odorata Blume 1825: 423; – Backer + Bakhuizen 1968: 211; De Vogel 1969: 343; Larsen + De Vogel 1972: 134; Lang + Tsi 1976: 603; Chen + Lang 1986: 348. Averyanov 1988f: 20; – 1990: 26; Seidenfaden 1992:13; Phạm Hoàng Hộ 1993: 943; – 1994: 718.

– A. platystylis J. J. Smith 1920a: 16; Holttum 1964: 66.

– A. selebica J. J. Smith 1933b: 449.

– A. thorelii Gagnep. 1933: 350; – 1934: 652.

– A. latifolia auct. non Rolfe: Gagnep. 1934: 651; Bân + Huyên 1984: 195.

– A. wallichii auct. non R. Br: Gagnep. 1934: 651; Tang + Chen 1977: 180.

Địa lan, cao khoảng 30cm, thân hình trụ mảnh khảnh, mang 1 – 3 nhánh. Nhiều lá mọc xen, xếp xoắn ốc, lá thon hẹp dài, có mũi nhọn, dài 20 – 30cm rộng 2 – 4cm, hẹp dần thành cuống dài 2 – 5cm rồi nở ra thành bẹ ở đáy, ôm thân. Phát hoa ở ngọn và ở nách các lá phía trên, dài 12cm. Hoa thưa, khoảng 15 – 20 hoa, màu vàng tươi. Lá hoa thon nhọn, dài 5 – 10mm. 3 lá đài dài khoảng 9mm. 3 cánh hoa hơi ngắn hơn. 2 nhụy đực thụ có tua nhụy rất ngắn, khoảng 1mm, hình dạng giống nhụy đực ở A. ivallichiv, nhụy lép dài cỡ bao phấn, rời và rất ngắn, cỡ 1mm ở dưới nướm. Gốc của trụ ở phần dưới chỗ gắn của nhụy đực thì rộng ra và dẹp lại và hơi có rãnh, dài cỡ 2mm. Bầu noãn có cạnh, dài 1,5cm ở hoa, 2,1cm ở trái.

Hiện diện: Hoàng Liên Sơn (Sapa), Vĩnh Phú (Tam Đảo), Hà Nội (Ba Vì), Khánh Hòa (Nha Trang), Lâm Đồng (Đà Lạt, Prenn, Bảo Lộc), Đồng Nai
(Gia Kiệm).

Phân bố: Ấn Độ, Trung Quốc, Hải Nam, Thái Lan, Lào, Campuchia, Malaysia, Sumatra, Java, Kalimantan, Indonesia

Add a Comment

Your email address will not be published.