LAN HÀI (SLIPPER ORCHIDS ) – Giống CYPRIPEDIUM (Phần 27)

2a7a2b761b3157e99439d15478a250cf

A. Loài Cypripedium ventricosum

Loài Cypripedium manchuricum Stapf. được thảo luận và minh họa trong tạp chí Người làm vườn (Botanical Magazine), bảng 9117 của năm 1927, coi nó là một loài mới. Nhưng thực ra nó chỉ là một cái tên đồng nghĩa với tên của một loài xa xưa là C. ventricosum.

PHÂN BỔ THEO ĐỊA DƯ. C. manchuricum được mô tả như có nguồn gốc từ miền đông nam của Siberia; Theo như Slyusarenko mô tả năm 1981 thì loài C. ventricosum có mặt ở khắp Liên bang Xô viết cũ. Trải qua nhiều năm, người ta lại phát hiện chúng hiện diện ở nhiều địa điểm ở châu Á.

MÔI TRƯỜNG SỐNG. Chúng phát triển ở khu vực ẩm thấp. bên rìa các khu rừng già và những khu rừng tạp, ở những vùng đồng cỏ miền núi và tại những bụi cây rậm rạp, đồng thời chúng ưa thích nơi có các chất mùn làm thành chất trồng, thứ đó có rất nhiều ở các lưu vực sông.

NHỮNG LƯU Ý KHI NUÔI TRỒNG. Xem phân môi trường sống của chúng.

MÔ TẢ. Thân cây có nhiều lông, cao đến 60 cm, thường thì chúng có 5 lá hình ê-lip rộng. Đầu lá nhọn và ở nơi cuống lá có lớp vỏ lụa. Rất ít thấy chúng có hai hoa, cây mẫu mà người ta đem về chỉ có một hoa . Lá đài sau hình ô-van, phần đầu nhọn, dài 3-6 cm, rộng 2-2,5 cm, che phủ lên cái túi. Các lá đài khác thì cũng cùng hình dáng và kích thước. Phần gốc của cả hai lá đài bên đều có lông, phần còn lại thì nhẵn. Màu của các lá đài từ ngả xanh qua trắng đến hồng, đỏ hoặc đỏ tía.

Loài C. ventricosum có các cánh hoa hình mũi mác gấp nếp, đầu nhọn, ở ngay dưới cái túi (hài) và uốn cong như ôm lấy cái túi. Các cánh hoa có lông tơ đến tận phần túi, chúng dài 3-6 cm, rộng 1 cm. Cái túi hình ô-van nhỏ, phồng lên. Đôi khi cái túi có hình bán cầu, nhưng cũng có khi là hình trứng ngược hơi dẹt. Kích thước của túi là 3-5 cm. Màu của túi tương đồng với màu của hoa, mặc dù màu chỗ miệng túi hơi xỉn hơn. Trong thực tế. màu của hoa thường hay biến đổi gồm trắng, kem, hồng, đỏ tía và cũng có khi có hai màu trắng và hồng hoặc một chút màu đỏ. Những cây được sưu tầm từ những vùng trong rừng thường có hoa nhỏ hơn và có màu sắc tối hơn, trong khi đó những cây mẫu lại có hoa lớn hơn và màu của túi cũng đa dạng hơn.

MÙA RA HOA. Tháng Năm và tháng Sáu.

B. Cypripedium wardii Xin tham khảo loài C. guttatum Sw. trong các bài đã đăng.

C. Cypripedium wilsoni Rolfe

PHÂN BỐ THEO ĐỊA DƯ. Loài này được tìm thấy ở tỉnh Sichuan, Trung quốc.

MÔI TRƯỜNG SỐNG. C. wilsoni ưa thích sống trong các khu rừng có nhiều bóng râm, trên độ cao chừng 2.100 m.

NHỮNG LƯU Ý KHI NUÔI TRỒNG. Tham khảo cách nuôi trồng của loài C. cordigerum.

MÔ TẢ. Thân cây có lông tơ, đạt chiều cao tới 30-37,5 cm, và có nhiều lá với lớp vỏ lụa. Những cái lá có lông hình trứng, đầu lá nhọn và mép lá gợn sóng. Mỗi cá lá dài 7,5-15 cm, rộng 5-12,5 cm.

Chỉ có một hoa lớn, đo chiều ngang hoa được 15 cm. Màu cơ bản của các thành phần của hoa là vàng; các lá đài và cánh hoa có sọc màu nâu, trong khi đó túi có những đốm nâu. Lá đài sau có đầu nhọn và hình ô-van, còn các lá đài bên thì hẹp hơn và đầu chia làm hai thùy. Các cánh hoa trải rộng với hình trứng ngược hẹp, đầu cũng nhọn. Môi có dạng trứng và có nếp nhăn.

MÙA RA HOA. Tháng Sáu.

Kỳ sau: Cypripedium wumengense S. C. Chen sp. nov.

Hình trên: Loài Cypripedium ventricosum var. album

Add a Comment

Your email address will not be published.