NGÀY 23 THÁNG 11 NĂM 1940.

Bẩy Viễn

NGÀY 23 THÁNG 11 NĂM 1940.

Đọc cuốn tiểu thuyết “Người Bình Xuyên” của Nguyễn Hùng, mới hiểu ra rằng, nơi mình đang sống hiện nay chính là căn cứ của Người Bình Xuyên đã từng cát cứ từ những năm 1940 đến năm 1956. Những địa danh hàng ngày vẫn thấy, vẫn gọi, tưởng bình thường, nào ngờ đâu nó lại là chứng nhân của một thời của những băng đảng trộm cướp, những kẻ giang hồ từng cắt máu ăn thề, và cũng có những con người rời bỏ băng cướp để đi theo Việt Minh, đánh đuổi thực dân Pháp, những người đã chuẩn bị một cuộc bạo động để đánh đuổi Pháp vào ngày 23 tháng 11 năm 1940.

Quận 7, nơi gia đình tôi đang sinh sống, trước đây thuộc Nhà Bè, cùng với Cần Giuộc, Cần Đước nằm trong khu Rừng Sác – căn cứ địa của những Người Bình Xuyên, mà đứng đầu đám thảo khấu này là Bẩy Viễn tức Lê Văn Viễn.

Nhà Bè nước chảy chia hai
Ai về Gia định, Đồng Nai thì về.

Vùng sông nước nơi đây có 8 cây cầu, trong đó có cầu Long Kiểng và cầu Rạch Đỉa, khu vực cầu Rạch Đỉa hiện nay đã thành một khu dân cư toàn nhà cao tầng của những nhà đầu tư lớn.

Cũng cần nói thêm một chút, ngoài băng đảng Bình Xuyên của Bẩy Viễn ở khu Rừng Sác thì còn có băng Mười Trí cát cứ vùng sông Vàm Cỏ, sau tham gia Phật giáo Hòa Hảo của Huỳnh Phú Sổ, với biệt danh là “Sư thúc Hòa Hảo”. Vùng Tây Ninh do Phạm Công Tắc cát cứ và lập nên đạo Cao Đài.

Trong bài này tôi không đề cập đến Mười Trí, Huỳnh Phú Sổ cũng như Phạm Công Tắc mà tập trung vào băng Binh Xuyên của Bẩy Viễn. Bẩy Viễn là một tướng cướp, đã có lúc đưa anh em đồng đảng tham gia bộ đội Bình Xuyên. Nhưng với bản tính ngang tàng, hám lợi nên đã bị trung tá tình báo Pháp là Savani móc nối, Bẩy Viễn đã đưa quân về đầu hàng, được phong chức đại tá. Kể từ đây, Bẩy Viễn tích cực làm tay sai cho Pháp, hối lộ Bảo đại để được phong thiếu tướng, đô trưởng cảnh sát Sài gòn – Chợ Lớn.

Mỹ đã ép Bảo Đại phải đưa Ngô Đình Diệm về làm Thủ tướng, cuộc đời Bảy Viễn từ đó đã xuống dốc không phanh. Theo lệnh Diệm, tướng Dương Văn Minh đem quân đi truy quét Bình Xuyên, Bẩy Viễn thua phải chạy sang Pháp. Pháp dùng Bảo Đại và Bẩy Viễn làm quân cờ, với ý đồ chiếm lại Việt Nam, Pháp âm mưu cho Bảo Đại đánh đổ Diệm, lập lại ngai vàng và đưa Bẩy Viễn lên làm Thủ tướng (May quá, nếu thành thì Việt Nam Cộng hòa đã có Thủ tướng là một tướng cướp!). Pháp tính không lại được với Mỹ tính, con trai của Viễn bị cảnh sát Sài gòn bắn chết. Từ đó Viễn hết mộng tưởng trở về.

Thực ra, trong khu vực Rừng Sác, người có uy tín nhất phải kể đến ông Tám Mạnh và người con rể Hai Vĩnh. Tám Mạnh không bao giờ tham gia vào các vụ cướp bóc, chỉ là thầy dạy võ. Bằng uy tín của mình, hai người này đã tập hợp dưới trướng, với bề ngoài là một lò dạy võ, nhưng bên trong là một lực lượng mà Việt Minh – người đại diện là Bảy Trân, móc nối, cảm hóa và tổ chức để chuẩn bị cho ngày bạo động 23/11/1940. Sau này Tám Mạnh gia nhập đảng CS.

Những người chuẩn bị tham gia vào ngày 23/11/1940 còn phải kể đến các ông: Năm Chảng, Tư Phương (cũng là một tướng cướp khét tiếng), Chín Mập và Mười Nhỏ (tên thật là Ngà). Vào thời gian đó, dân gian truyền khẩu câu ca: “Chừng nào lúa mọc trên chì, voi đi trên giấy, còn gì thầy Tăng”, có sách giải thích rằng, “lúa mọc trên chì” là hình cây lúa trên đồng 2 xu kim loại, “voi đi trên giấy” là hình con voi trên đồng bạc 100 bằng giấy, “còn gì thầy Tăng” là cách nói lái, thầy Tăng – thằng Tây. Với trình độ dân trí của dân ta lúc đó thì họ tin và cho đây là câu sấm của ông Trạng Trình. Ông Tám Mạnh đã kêu gọi mọi người bằng một câu rất đơn giản: “Lâu nay cá ăn kiến, bây giờ kiến ăn cá!”.
Tiếc rằng, chủ trương bạo động của xứ ủy Nam Kỳ không được trung ương đảng Cộng sản chấp thuận vì nhân dân chưa được chuẩn bị và lực lượng của Pháp còn rất mạnh, lo sợ cho một thất bại, nếu cuộc bạo động được tiến hành.
Xin nói thêm một chút về các tướng cướp cát cứ ở những vùng khác như ông Mười Trí, “sư thúc Hòa Hảo”, ông này sau tham gia Mặt trận giải phóng miền Nam, là chính khách của Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam, đại biểu quốc hội khóa VI.

Phạm Công Tắc, lấy tòa thánh Tây Ninh làm căn cứ, lúc đầu Phạm Công Tắc tưởng Nhật sẽ đảo chính Pháp thành công nên đã vội ôm chân Nhật; khi Pháp trở lại Việt Nam thì lại quay sang ôm chân Pháp; đến khi Pháp rút, Mỹ thế chân lại quay sang giúp Mỹ chống lại cuộc kháng chiến của dân tộc. Trong chiến dịch đông tiến do Hoàng Cơ Minh (Việt Tân) tổ chức trong những năm 1980 thì Cao Đài Tây Ninh cũng có dính líu.

Trong những người chức sắc của đạo Cao Đài có ông Đốc phủ Nguyễn Ngọc Tương, một quan lại của Pháp cũ, do không chịu hợp tác với Pháp, ông đã về Bến Tre và lập nên một nhánh Cao Đài ly khai với Cao Đài Tây Ninh, động viên nhân dân các tỉnh miền tây Nam Bộ tham gia kháng chiến. Hai người con trai của ông, là người Việt có quốc tịch Pháp đã lần lượt trở về nước tham gia kháng chiến và đã bị Pháp đầu độc, là các ông Nguyễn Ngọc Nhựt và Nguyễn Ngọc Bích. Nếu bạn nào muốn tìm hiểu về ông Nguyễn Ngọc Tương xin tìm đọc cuốn “ĐÊM TRẮNG CỦA ĐỨC GIÁO TÔNG”. Hoàn cảnh của Đức Giáo tông được tóm tắt trong mấy câu thơ sau đây:

…Nên tình máu mủ vì danh Đạo
Đành để hai con chịu khổ hình
Mệnh hệ nhơn sinh thà bảo trọng
Tình nhà cam phải chịu hy sinh…
*
**
Nhân ngày 23 tháng 11, tôi lượm lặt một ít câu chữ như vậy để tỏ lòng ngưỡng mộ đối với những người dân Nam bộ, những người có tính cách hào sảng và trọng nghĩa. Chẳng phải là chính sử, chẳng qua chỉ là một góc nhỏ của Nam bộ của Việt Nam vào những năm 40 mà thôi. Coi như một nén tâm nhang xin gởi tới những người đã khuất, đã chết cho hôm nay tôi được sống./.

Tháng 11/2017
Ph. T. Kh.
(Ảnh trong bài: Ngô Đình Diệm và Bẩy Viễn)

Add a Comment

Your email address will not be published.