MỪNG NHƯNG CHƯA VUI

Điện về bản

TẢN MẠN CUỐI TUẦN

MỪNG NHƯNG CHƯA VUI

Ngày đầu năm, trên truyền hình đưa tin như sau: “Công ty điện lực X đã đầu tư hàng chục tỷ đồng để đưa dòng điện về cho dân ở một bản xa xôi”. Như vậy là mừng chứ còn gì nữa, phải không các bạn? Mừng nhưng chưa có niềm vui trọn vẹn.

Vì rằng,

Đưa điện về cho các bản làng của các dân tộc thiểu số ở vùng sâu vùng xa là một việc làm nhân văn, thật đáng hoan nghênh. Nhưng nếu đầu tư hàng chục tỷ đồng, xây dựng mấy chục km đường điện trung và hạ thế cùng với trạm biến áp, chỉ để cho người dân có được một cái bóng đèn, một cái TV, một cái tủ lạnh thì sự đầu tư có thỏa đáng?

Đành rằng trong một căn nhà đơn sơ mà có được chút ánh sáng điện để cho con trẻ học và một cái TV để nắm bắt thời sự, tin tức thì cũng tốt. Song những thứ đó không thể làm tăng thu nhập cho người dân, để giúp cho “miền núi tiến kịp miền xuôi” như khẩu hiệu ta thường gặp. Điều cần thiết là bất cứ khoản đầu tư nào của nhà nước cũng nhằm đến cái đích cuối cùng là làm tăng thu nhập cho người dân.

Chúng ta đã được một tổ chức quốc tế đánh giá, Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ người dân tiếp cận điện cao, khoảng 90%, 100% số xã đã có điện. Đó cũng là điều đáng mừng nhưng chưa vui. Nếu chỉ chạy theo chỉ tiêu có tính số lượng đó, mà không chú ý để đạt chỉ tiêu chất lượng (thí dụ tăng thu nhập như tôi nói ở trên) thì vẫn là chú trọng hình thức. Biểu thị của sự hình thức này ngay trong ngày đóng điện cho một bản ở một tỉnh miền núi địa đầu phía bắc. Cái mà chúng ta thấy được trên bản tin truyền hình là một chiếc TV cũ đang thu chương trình, sóng lại bị nhiễu quá và một chiếc tủ lạnh hầu như trống không, cùng với hình ảnh ông giám đốc công ty nọ trả lời phỏng vấn phóng viên truyền hình, trong một bộ lễ phục rất oách, tương phản với khung cảnh của bản làng và những bộ quần áo của người dân sở tại…toàn bộ bản tin chỉ có vậy.

Nói vậy không phải là tôi phản đối việc đưa điện về bản làng. Nhưng tôi muốn bàn đến cách đưa điện về, mục tiêu của dự án và thời điểm thích hợp cho việc thực hiện dự án.

Về cách đưa điện về bản làng: Ở vào giai đoạn này không nên đầu tư một cách rất quy mô, hoành tráng, bỏ ra hàng chục tỷ, hàng trăm tỷ đồng, chỉ để bán được một số lượng điện rất ít (do mức tiêu thụ rất thấp của dân). Có lần tôi đã gặp một anh nhân viên đi thu tiền điện ở ngoài Quảng Trị, anh ta nói: “Tiền thu từ bán điện của một bản chưa bằng tiền tôi đổ xăng để đi đến đó thu tiền, do vậy tôi không đi thu nữa, lấy tiền đổ xăng của mình nộp vào quỹ công ty cũng đủ, thế là vừa đỡ tốn sức lại đỡ hư hao xe”.

Vậy làm thế nào? Ý tôi là, nơi nào có thể làm được nguồn điện tại chỗ thì đầu tư. Nơi nào không có điều kiện, lúc đó mới tính đến việc xây dựng đường dây và trạm. Nguồn tại chỗ là gì? Là điện mặt trời kết hợp thủy điện cực nhỏ (micro hydro power), có thời gian gọi loại thủy điện đó là thủy luân. Việc xây dựng những trạm thủy luân này cực kỳ đơn giản, chi phí đầu tư chỉ tính tiền triệu, thời gian thi công tính bằng tháng; hoặc trạm thủy luân kết hợp điện gió; hoặc điện mặt trời kết hợp điện gió. Những thứ này người nông dân có thể quản lý được, không cần đến những nhà kỹ thuật từ tận thị xã, thành phố xuống. Bởi vì công suất các nguồn điện nhỏ, chỉ đủ cung cấp cho một bản vài chục gia đình, không đáng để hòa vào lưới điện quốc gia. Những hình thức đầu tư này chẳng mới mẻ gì, ở nước ta đã có, đã lâu rồi ở miền trung có một dự án thủy điện nhỏ kết hợp điện mặt trời do chính phủ Nhật tài trợ. Nếu cần, địa phương hoặc của ngành điện tổ chức một lực lượng vừa đủ để tiến hành duy tu bảo dưỡng định kỳ. Xây dựng những công trình quy mô lớn mà chỉ để bán mấy giọt điện thì khác nào dùng dao mổ trâu để mổ gà! Phải chăng đây là một căn bệnh hình thức?

Thời điểm nào thì sẽ đầu tư những công trình có quy mô như hiện nay: Đó là khi ở nơi bản làng đó chuẩn bị hình thành những cơ sở sản xuất nông lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp hoặc chăn nuôi, tính toán hiệu quả kinh tế, chỉ có phát triển sản xuất mới xóa nghèo cho đồng bào các dân tộc ở vùng sâu vùng xa. Còn nếu chỉ dùng vào việc sinh hoạt thì sản phẩm xã hội chẳng tăng được mấy phần trăm, nếu không muốn nói là không có, vì chi phí xây dựng, chi phí bảo trì, chi phí quản lý đã nuốt hết (có khi không đủ) những gì dân bản có thể sản xuất tăng thêm.

Chức năng “xã hội” không thuộc một doanh nghiệp lấy mục tiêu lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng. Nói như vậy không có nghĩa là các doanh nghiệp không có trách nhiệm với xã hội. Họ thực hiện trách nhiệm của họ bằng các hoạt động làm sao cho sản xuất phát triển, tạo ra năng suất lao động ngày càng cao, có nhiều lợi nhuận để đóng góp vào thu nhập quốc dân và nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước. Ngoài ra, đối với công tác xã hội, họ cần tham gia (tham gia thôi), bằng tiền (trích từ phúc lợi chứ không phải từ vốn ngân sách), bằng nhân lực. Chủ trì và trách nhiệm chính thuộc về những tổ chức xã hội, kiểu như Quỹ xóa đói giảm nghèo, các quỹ từ thiện hoặc Ngân hàng chính sách…

Chính những khoản đầu tư không tính toán để đạt hiệu quả cao nhất làm tăng việc chạy theo thành tích của các địa phương, nếu không muốn nói, là mảnh đất để gieo trồng những “cây tham nhũng”. Đồng thời chính những khoản đầu tư hình thức này đã góp phần làm cho năng suất xã hội của Việt Nam luôn thua kém các nước quanh ta (xin đọc bài 23 vấn đề người ta không nói với bạn… Vấn đề thứ 3)./.

Tháng 1/2018

Ph. T. Kh.

Add a Comment

Your email address will not be published.