ĐƯỢC VÀ MẤT

CCRD

ĐƯỢC VÀ MẤT

Hôm nay đọc cuốn “Việt Nam thời Pháp đô hộ” của Giáo sư sử học Nguyễn Thế Anh (*). Qua cuốn sách này tôi mới hiểu tại sao Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lại tiến hành công cuộc cải cách ruộng đất vào nửa sau của những năm 1950.

Theo tài liệu của một người Pháp tên là Y. Henry, vào năm 1930, hai phần ba nông dân ở Bắc kỳ và Trung kỳ chỉ sở hữu không quá 0,3 ha ruộng đất. Số liệu thống kê cho thấy:

  • Ở Bắc kỳ: 98% người dân sở hữu dưới 5 ha; 2% sở hữu 5-10 ha và 0,02% sở hữu trên 50 ha.
  • Ở Trung kỳ: dưới 5 ha là 99%; 1% có từ 5-10 ha, và 0,008% có trên 50 ha
  • Ở Nam kỳ: dưới 5 ha là 72%; 26% có 5-10 ha, và 2% có trên 50 ha.

Nhìn vào các con số trên, rõ ràng ruộng đất của nước ta thời đó tập trung vào tay một số rất ít người, đại đa số người dân (trên 90%) là thiếu đất canh tác. “Các địa chủ được chính quyền thuộc địa phát cho những địa sản rộng lớn, thay vì tự canh tác, họ lại phân chia thành những tế phân nhỏ để giao cho tá điền… để thu địa tô, trong nhiều trường hợp, một tá điền khai thác 5 ha chỉ giữ lại có một phần hai mươi hoa lợi…” (Nguyễn Thế Anh sđd, trang 183).

Vào những năm 1950, cuộc kháng chiến chống Pháp đang đi vào giai đoạn quyết định. Tham gia vào cuộc kháng chiến này có những nhà địa chủ, tư sản yêu nước và những nhà trí thức giác ngộ, tình nguyện cống hiến tài sản và trí tuệ cho công cuộc kháng chiến. Song đại bộ phận những người lính trực tiếp chiến đầu hoặc phục vụ chiến đấu lại là những người nông dân và công nhân lao động. Trong khi đó gia đình của những người lính này lại chính là tầng lớp nghèo khổ nhất vì thiếu ruộng đất, vậy nếu cứ để tình trạng thiếu ruộng đất ấy, liệu những người lính nghèo khổ này có an tâm chiến đấu?

Vào giai đoạn quyết định của cuộc kháng chiến, đó là thời điểm chiến dịch Điên Biên phủ được mở ra, và nhờ có khẩu hiệu “Người cày có ruộng”, đã động viên được tinh thần chiến đấu của hàng vạn bộ đội trên các mặt trận, chiến thắng Điện Biên Phủ có dấu ấn của công cuộc cải cách ruộng đất đó.

Đã là cuộc đấu tranh thì luôn có “BÊN ĐƯỢC” và “BÊN MẤT”. Đặt lên bàn cân để quyết định thì “Bên được” chính là chín mươi phần trăm nông dân và công nhân lao động, họ chiếm đa số trong những người đóng góp có khi bằng cả sinh mạng của mình cho kháng chiến, và “Bên mất”, đương nhiên là những nhà địa chủ. Song, chung cuộc thì cái được lớn nhất, không chỉ là đem lại ruộng đất cho dân cày, mà chính là sự thành công trong công cuộc chống Pháp xâm lược, giành lại độc lập cho dân tộc.

Cũng như cuộc chiến tranh chống Mỹ sau năm 1954, công cuộc cải cách ruộng đất cũng đôi khi không chỉ là cuộc đấu tranh giữa giai cấp địa chủ và giai cấp nông dân nghèo, mà còn là cuộc giằng co trong nhiều gia đình của xã hội ta thời đó.

Trong gia đình tôi cũng không tránh khỏi sự giằng xé đó. Chẳng là ông nội tôi có bốn anh em trai, thì hai ông thuộc tầng lớp địa chủ có thế lực trong làng xã. Cơn bão táp cải cách ruộng đất cũng tràn qua gia đình tôi, gia sản cũng phải đem phân chia cho nông dân, song cũng may là chưa một ai bị đem ra đấu tố, vì các con cháu trong gia đình đã tham gia cách mạng ngay những ngày đầu khởi nghĩa. Bà ngoại tôi và bên ngoại của vợ tôi cũng thuộc tầng lớp trên, riêng ông ngoại của bà xã của tôi, đã chết trong một túp lều bên ngoài làng, vì không còn nhà cửa, gia sản đã phải chia cho nông dân. Đó là “Bên mất”.

Ngày nay, con cháu của những gia đình địa chủ ngày xưa chắc vẫn còn những “NỖI BUỒN CẢI CÁCH”, song nếu chúng ta nghĩ về “Cái được lớn” thì thấy rằng, “Cái mất” của các gia đình địa chủ đã đóng góp không nhỏ vào “Cái được” của cả dân tộc. Còn những ai không nghĩ cho dân tộc mà chỉ nghĩ về gia đình mình thì cũng không thể trách cứ họ, vì mỗi “cuộc chiến” (tôi coi công cuộc cải cách ruộng đất cũng như một cuộc chiến) đều rất khốc liệt, thậm chí không ít người còn bị những nỗi oan khiên, vì thế mà không phải ai cũng dễ dàng chấp nhận sự mất mát của gia đình mình.

Đó là một giai đoạn của lịch sử của dân tộc. Đã là lịch sử thì có điểm son và cũng có điểm đen. Điểm son dưới thể chế Việt nam Dân chủ Cộng hòa là đã thành công trong công cuộc “Diệt giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm”. Có lẽ ta nên nhìn vào đại cuộc để tỏ thái độ nhỉ?./.

Tháng Ba, 2018

Ph. T. Kh.

 

———————————–

(*) Nguyễn Thế Anh, nguyên Giáo sư sử học tại Sài gòn vào năm 1970; Giám đốc Nghiên cứu tại trường Cao đẳng Sorbonne, Pháp; Giáo sư thỉnh giảng tại Hoa kỳ. Cuốn sách “Việt Nam thời Pháp đô hộ” được NXB Lửa thiêng, xuất bản tại Sài gòn năm 1974; NXB Văn hóa Văn nghệ TP. HCM tái bản năm 2017.

 

 

 

 

 

Add a Comment

Your email address will not be published.