Chúng ta không sống trong thời hậu công nghiệp

capitalism 3

23 VẤN ĐỀ HỌ KHÔNG ÓI VỚI BẠN VẾ…

(Ha-Joon Chang)

Vấn đề thứ 9: “Chúng ta không sống trong thời hậu công nghiệp”

Những điều họ nói với bạn:

Nền kinh tế của chúng ta về cơ bản đã được chuyển đổi trong vài thập kỷ qua. Đặc biệt tại các nước giàu, nền công nghiệp sản xuất, từng là động lực của chủ nghĩa tư bản, giờ đây không còn quan trọng nữa. Với xu hướng tự nhiên của nhu cầu (tương đối) đối với các loại hình dịch vụ đang tăng lên cùng với sự thịnh vượng và với sự gia tăng của dịch vụ dựa trên tri thức năng suất cao (như ngân hàng và nhà tư vấn quản lý), các ngành công nghiệp sản xuất đã lâm vào tình trạng suy giảm ở tất cả các nước giàu. Các nước này đã bước vào thời kỳ “hậu công nghiệp”, nơi mà hầu hết mọi người làm việc trong các ngành dịch vụ và hầu hết sản lượng đầu ra đều là các dịch vụ. Sự suy giảm của sản xuất không chỉ là một điều tự nhiên mà chúng ta không cần phải lo lắng, nó còn là điều chúng ta thực sự nên ăn mừng. Với sự gia tăng của các dịch vụ dựa vào tri thức, việc bỏ qua những hoạt động sản xuất đang chịu số phận bi đát này và đi tắt đón đầu để thẳng tiến vào một nền kinh tế hậu công nghiệp dựa vào dịch vụ có thể tốt hơn ngay cả đối với một số nước đang phát triển.

Những điều họ không nói cho bạn biết

Chúng ta có thể đang sống trong một xã hội hậu công nghiệp xét theo khía cạnh là hầu hết chúng ta làm việc trong các cửa hàng và các văn phòng chứ không phải là trong các nhà máy. Nhưng chúng ta đã không bước vào một giai đoạn phát triển hậu công nghiệp theo nghĩa là ngành công nghiệp đã trở nên không quan trọng. Hầu hết (mặc dù không phải tất cả) sự suy giảm của ngành sản xuất trong tổng sản lượng đầu ra không phải là do giảm tuyệt đối số lượng hàng hóa công nghiệp được sản xuất ra mà do sự giảm giá của các hàng hóa này so với giá của các dịch vụ. Điều này xảy ra là do sự tăng trưởng nhanh hơn trong năng suất của ngành sản xuất (sản lượng đầu ra trên một đơn vị đầu vào). Hiện nay, mặc dù xu hướng giảm công nghiệp hóa chủ yếu do sự tăng trưởng năng suất chênh lệch giữa các ngành, và do đó có thể không gây ảnh hưởng tiêu cực cho chính bản thân nó, nhưng nó lại có hiệu quả tiêu cực cho sự tăng trưởng năng suất của toàn bộ nền kinh tế và cán cân thanh toán, điều mà chúng ta không thể lơ là. Như đối với ý tưởng rằng các nước đang phát triển có thể bỏ qua phần lớn giai đoạn công nghiệp hóa và bước thẳng vào giai đoạn hậu công nghiệp, đó là một ảo tưởng. Phạm vi giới hạn của chúng đối với tăng trưởng năng suất khiến các ngành dịch vụ trở thành một công cụ không mấy hiệu quả đối với tăng trưởng. Khả năng thương mại không bị giới hạn về vị trí địa lý thấp của các ngành dịch vụ có nghĩa là nền kinh tế dựa vào dịch vụ sẽ có năng lực xuất khẩu thấp hơn. Kim ngạch xuất khẩu thấp hơn có nghĩa là khả năng mua công nghệ tiên tiến từ nước ngoài yếu hơn, từ đó dẫn đến sự tăng trưởng chậm.

Lời bàn:

Nếu nhìn vào con số 40% số người lao động (đặc biệt là ở Anh và Bỉ) vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, tham gia vào ngành sản xuất, tỷ lệ này hiện chỉ còn 25% ở một số nước, và một số nước khác (đặc biệt là Anh và Mỹ) chỉ còn 15%, thì người ta cho rằng các ngành sản xuất đang giảm, và ngành dịch vụ đang tăng lên. Đó là các nước đã bước vào thời kỳ “hậu công nghiệp”. Không phải vậy.

Giả thiết rằng, nước Việt Nam ta giảm mức công nghiệp hóa mà phát triển ngành dịch vụ như tài chính, tư vấn, thiết kế, các dịch vụ máy tính và thông tin, dịch vụ nghiên cứu và phát triển (R&D). Liệu chúng ta đã có đủ năng lực để xuất khẩu các dịch vụ này, rồi nhập khẩu những sản phẩm công nghiệp mà đất nước đang cần? Không đâu! Ngay ở các nước phát triển nhiều ngành công nghiệp vẫn phát triển và giữ một vài trò chủ chốt, nhưng vì năng suất công nghiệp ngày một cao hơn, nhu cầu về lao động chân tay giảm đi do tự động hóa được ứng dụng khắp nơi nên số người làm việc trong các ngành công nghiệp giảm. Ngày nay, các nước phát triển đi vào những sản phẩm công nghiệp có tỷ lệ tri thức cao hơn, giá thành thấp hơn và nhu cầu trên thế giới nhiều hơn.

Đúng là một số ngành công nghiệp ở các nước giàu có giảm, nhưng chúng ta cần biết, những ngành nào bị giảm? Trung quốc trong thập niên 90 đã tận dụng được thời cơ này, biến nước họ thành một công xưởng của thế giới, tận dụng nhân công rẻ đã cung cấp ra thị trường thế giới những sản phẩm công nghiệp giá rẻ.

Các nước giàu khuyên những nước đang phát triển hãy đi vào thời kỳ “hậu công nghiệp”, chẳng qua là họ muốn chúng ta phụ thuộc vào họ, tiêu thụ hàng hóa của họ, còn dịch vụ của chúng ta thì chỉ có ta xài mà thôi. Đó là một cái bẫy!

Những ảo tưởng về thời kỳ hậu công nghiệp không những có hại đối với các nước giàu, mà còn rất nguy hiểm cho các nước đang phát triển!

(Còn tiếp. Kỳ sau: Vấn đề thứ 10 – “Mỹ không có mức sống cao nhất thế giới”)

Add a Comment

Your email address will not be published.