Paphiopedilum hangianum

Paph. hangianum variants colour

Paphiopedilum hangianum Perner & Gruβ

Cùng loài

Paphiopedilum singchii Z.J Liu & J.Y. Zang

Dẫn nhập

Paphiopedilum hangianum là độc nhất, vì kích thước hoa của nó thật là lớn, có thể bằng kích thước tổng quát của cây. Nó đã được mô tả như một loài, nhưng Perner & Gruβ không loại trừ khả năng đây là một loài lan mới “được lai tạo trong tự nhiên”. Giả thiết rằng các cây cha mẹ của nó, như người đề xuất là các loài Paph. emersoniiPaph. vietnamensis hoặc là Paph. mapoliense. Tiếp đến là sự kết hợp được đề xuất là Paph. hangianum, mặc dù có một vài điểm giống nhau về cấu trúc, nhưng không có gì đồng nhất với Paph. Memoria Larry Heuer, một cây lai nhân tạo giữa Paph. emersonii với Paph. malipoense, nguyên thủy chúng được tạo ra bởi ông Fumisama Sugiyama của Yamato Noen Orchids, được Paphanatic đăng ký vào năm 1991. Bởi được tạo ra qua nhiều lần , vì thế không có lý do gì để nghi ngờ tính xác thực của loài lan lai này.

Song dù sao, việc phân loại sau cùng đối với Paph. hangianum, có thể không còn nghi ngờ gì nữa, cây này là một bổ sung có giá trị vào giống hài, và khó mà lẫn lộn với những loài khác mà ta đã biết. Mặc dù màu của nó khá là mờ đục, thì Paph. hangianum vẫn trở thành cây cha mẹ để cho ra một cây có hoa to đáng nể trên những cây nhỏ.

Mô tả

Paph. hangianum là một cây thuộc họ thảo mộc, có kích thước trung bình, đo từ đầu lá này đến đầu lá kia được 22,5 đến 45 cm. Mỗi cụm như vậy cho ta 3 đến 5 cặp lá, các lá mọc xiên chếch hướng lên trên, lá nọ chồng lên lá kia ở phần gốc. Mỗi lá có chiều dài 12,0 đến 25,0 cm, rộng 3,2 đến 5,0 cm. Trông chúng giống những cái lưỡi, đầu hơi nhọn, dai như da, mặt trên của lá màu xanh lá đậm, bóng, trông như những mảng khảm không đều nhau, cuống lá ngắn, có lông mịn, mặt dưới của lá màu xanh lá nhạt hơn và có sống lá. Cuống hoa thẳng đứng và cũng có khi hơi uốn cong, cao 15,0 đến 25,0 cm, đường kính của nó chừng 5 mm, màu xanh sáng, phủ một lớp lông. Thông thường mỗi cây chỉ có một hoa. Lá bắc của hoa dài 2,8 đến 3,0 cm và rộng 1,2 cm, hình ô-van, nhọn đầu, cuống lá nhỏ, có lông ở gốc, phần còn lại hơi gập lại quanh phần dưới của bầu nhụy. Bầu nhụy dài 3,8 đến 4,2 cm và đường kính khoảng 1 cm, hình trụ có màu xanh sáng và bao phủ bởi một lớp lông ngắn. Chiều cao của mỗi hoa từ 10,0 đến 12,5 cm, chiều ngang khoảng 11,0 đến 14,0 cm, đó là đo khi cây còn đang phát triển trong tự nhiên. Dưới ánh sáng ban ngày, hoa của nó tỏa ra một mùi thơm ngọt dịu. Lá đài sau dài 5,3 đến 5,6 cm và rộng 3,5 đến 4,0 cm, màu vàng đến xanh lá ánh vàng, hình ô-van, nhọn đầu, uốn vào phía trong. Các lá đài bên nhập lại thành lá đài kép dài 5,4 đến 6,0 cm và rộng 4,2 đến 4,7 cm, hình ô-van, đầu nhọn, màu vàng đến xanh lá pha vàng, mặt ngoài của lá đài có hai đường gân. Các cánh hoa dài 6,5 đến 7,2 cm và rộng 4,3 đến 5,0 cm, hình ô-van, đầu tròn, gần như trong mờ, màu vàng đến xanh lá pha vàng, màu sắc của mặt ngoài sáng hơn so với mặt trong, mặt trong của cánh hoa có những chấm màu hạt dẻ và ở phần chân có lông dài, với những vân không rõ ràng, riềm có lông tơ ngắn. Các lá đài cũng như các cánh hoa đều có lông ở cả hai mặt. Môi chia làm ba thùy rõ rệt. Các thùy bên cuộn vào trong tạo thành cái ống, Còn thùy chính ở giữa tạo thành một cái túi sâu, tròn, mép của miệng túi uốn cong vào bên trong. Túi có kích thước dài 3,3 cm còn chiều rộng thì không rõ ràng. Mép của túi dài 2,2 cm và rộng 1,7 cm. Màu sắc của túi là pha vàng đến màu kem, với những chấm mờ chỉ có ở phần chân, bên trong có những chấm dầy màu hạt dẻ, trên mặt có vân. Miếng nhịp lép kình thoi, nhọn đầu, cao 1,7 cm rộng từ 1,9 đến 2,1 cm, màu nền là trắng, có vân đỏ, với một chút màu xanh lá ở đầu mút.

Nguồn gốc tên gọi

Paphiopedilum hangianum được đặt tên để vinh danh Tong Ngoc Hang, người đã có đóng góp lớn trong việc tìm ra loài này.

Phân bố và thói quen sinh trưởng

Nơi sinh trưởng là miền bắc Việt Nam. Loài lan này mọc trên vùng núi đá vôi, trong những hốc mùn, được bao phủ bởi lớp rêu, dưới bóng râm lộ thiên, trên độ cao 800 đến 1.000 m. Địa chỉ chính xác nơi sinh trưởng chưa chắc chắn, Gruβ & Perner đã công bố nguồn gốc là “tỉnh Bắc Thái, Việt Nam”, trong tài liệu của các ông đã nói rằng, nguồn gốc của loài này là từ khu vực biên giới Việt Trung. Năm 1997, tỉnh Bắc Thái được phân chia thành Thái Nguyên và Bắc Kạn. Song cũng có một nguồn khác đáng tin cậy cho biết, nguồn gốc của nó là tỉnh Cao Bằng.

Mùa ra hoa

Trong tài liệu gốc đã nói rằng loài lan này ra hoa từ tháng Ba đến tháng Tư. Dù sao, mùa ra hoa của loài này thực ra là không giới hạn. Những cây được trồng ở miền bắc nước Đức đã ra hoa từ giữa tháng Mười và tháng Tư.

Các biến thể và biến loài

Paphiopedilum hangianum forma album Gruβ & Petchleung

Hoa của biến loài này không có màu đỏ như da. Các cánh hoa, các lá đài và môi thường có một màu chung là vàng lợt, trong một số cây vô tính gần như là trắng. Miếng nhịp lép có phần chân màu trắng, còn những chỗ khác thì giống như phần còn lại của hoa./.

Add a Comment

Your email address will not be published.