BỘ MÁY CÔNG QUYỀN

Công chức

BỘ MÁY CÔNG QUYỀN

Bộ máy công quyền phình to, theo thiển nghĩ của tôi, ngoài những nguyên nhân gì đó, nó cũng có một nguyên nhân thuộc về lịch sử. Xin nêu mấy nhận xét như thế này.

Thời bao cấp, trong một nền kinh tế kế hoạch, thôi thì cái đường lối kinh tế này cũng có điểm mạnh và điểm yếu. Điều đó bị chi phối bởi nhiều yếu tố lắm, muốn đánh giá nó một cách đầy đủ và khoa học thì phải nhờ đến các nhà kinh tế, các triết gia, các luật gia và các sử gia. Ở đây tôi chỉ xin nói những gì mà tôi cảm nhận được trong suốt thời gian tôi sống với nó, được hưởng thụ cũng như bị chi phối bởi nền kinh tế đó.

Thời bao cấp, ở miền bắc chỉ có ba thành phần kinh tế – quốc doanh, hợp tác xã và cá thể. Kinh tế quốc doanh chiếm vị trí chủ đạo và là tuyệt đại đa số. Bất kể ngành nghề gì, lớn bé, cao thấp cũng đều là “quốc doanh”, bênh cạnh những xí nghiệp quốc doanh, sản xuất những mặt hàng để đáp ứng nhu cầu của cuộc sống và chiến đầu thì cũng có các loại doanh nghiệp như cửa hàng ăn quốc doanh (ăn chứ không có uống), sau khi ăn muốn uống thì phải qua cửa hàng giải khát quốc doanh; rồi nào là cửa hàng cắt tóc quốc doanh, cửa hàng lương thực quốc doanh, cửa hàng rau quả quốc doanh vân vân. Tất cả những người làm trong cái “quốc doanh” đó đều là nhân viên hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Thỉnh thoảng đâu đó có vài cái kinh tế hợp tác xã như hợp tác xã sửa xe đạp, hợp tác xã cơ khí… Ngoài ra còn một số người buôn bán nhỏ, gọi là kinh tế cá thể. Trong xã hội, người ta chỉ coi trọng những người làm việc trong các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước. Đã từng có chuyện, một chàng trai đi hỏi vợ, khi bên nhà gái biết anh chàng làm ở hợp tác xã, thì gia đình nhà gái bĩu môi: “lấy ai chẳng lấy, lấy một thằng làm hợp tác xã!”. Còn những người buôn bán nhỏ thì bị gọi với cái tên rất khinh bỉ – “con phe” (từ chữ ap-phe – affair, trong tiếng Anh, Pháp).

Từ những quan niệm của xã hội như vậy, nên mọi người đổ xô vào các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước, to nhỏ gì cũng được, miễn là có cái mác “quốc doanh”! Mà hồi đó làm gì có chuyện thi tuyển như ngày nay. Quen biết thì kéo nhau vào; học xong thì khỏi lo chỗ làm, thế nào cũng có chỗ nhận vào làm việc, chỉ có điều là ở xa hay ở gần, công việc “có thơm hay không thơm” mà thôi. Đã có chỗ làm rồi thì khắc có chỗ ở, khắc có tem phiếu mua lương thực, thực phẩm, đi khám chữa bệnh không mất tiền. Còn hiệu suất làm việc? Chẳng mấy ai quan tâm. Cứ đến cuối năm, anh chị nào tích cực một chút thì được bàu là chiến sĩ thi đua, kha khá là lao động tiên tiến, mỗi danh hiệu như vậy cũng được thưởng một tí vật chất, tỷ như lao động tiên tiến thì được một cái khăn mặt hay một cục xà bông, thế là oách rồi!

Cái tư duy và cái quan niệm trọng “quốc doanh” như vậy kéo dài suốt thập niên 70, sang thập niên 80 rồi 90 của thế kỷ 20 và sang mãi hai chục năm đầu của thế kỷ 21 mà vẫn chưa hết. Cơ quan nhà nước như một cái bánh, nhiều khi không ngon đâu song ai cũng muốn chen chân vào xí phần. Để làm gì? Để có một chỗ đứng chân, nếu không gì sai phạm nghiêm trọng thì cứ tà tà mà sống, sống cho đến ngày tay nhận cuốn sổ hưu trí, tuy lương hưu cũng chẳng có bao nhiêu, nhưng nhiều cái được. Đó là được ăn, được nói. Cứ coi các buổi tiếp xúc cử tri của các vị đại biểu quốc hội thì biết, toàn những cụ có giắt trong cạp quần cuốn sổ hưu trí kèm theo cuốn sổ bảo hiểm xã hội. Các cụ bây giờ là thánh phán cả rồi. Ngày còn đương chức, chẳng mấy khi có sáng kiến để đưa ngành mình, địa phương mình phát triển hơn người. Nay về nghỉ rồi, thì bắt đầu phán rằng, phải làm như thế này, phải làm như thế kia, mặc dù tình hình trong nước cũng như thế giới thì mù, song cũng vẫn phán, nếu không con cháu nó buồn, vì chúng nó xin ý kiến mà chẳng lẽ không nói gì!

Đó là di sản của một thời bao cấp. Muốn xóa bỏ cái di sản đó không thể một sớm một chiều. Tôi tin, những người có trách nhiệm sẽ có cách làm cho bộ máy công quyền hiệu quả hơn, chất lượng cao hơn, đáp ứng được tâm tư nguyện vọng của dân hơn. Người dân sẽ đánh giá sự cống hiến của các vị, chứ không nên tự đánh giá. Muốn vậy thì những người là đại biểu của dân, ngồi trong ngôi nhà của quốc hội phải đủ bản lĩnh, đủ tầm và đủ tâm huyết. Việc loại dần các vị “nghị gật” ra khỏi cơ quan này cũng nên bắt đầu.

Có một điều mà tôi cảm thấy nhà nước còn lấn cấn gì đó trong việc giảm biên chế. Tại sao đến mãi đến những năm cuối nhiệm kỳ mới giảm được 10 phần trăm. Chẳng phải các vị đã nói, 30 phần trăm công chức làm việc theo kiểu “sáng cắp ô đi, tối cắp về” đó sao? Tại sao không mạnh dạn đưa ra khỏi biên chế những con người đó ngay hôm nay?

Các triều đại phong kiến xưa cũng đã rất quan tâm đến việc giảm số lượng quan lại nhằm nâng cao hiệu quả cai trị đất nước. Vào thế kỷ thứ 13, vua Trần Nhân Tông đã dùng những lời lẽ sau đây để lên án những người kế vị:

“Có bao giờ một nước to bằng bàn tay mà lại đặt triều ban nhiều đến thế này?” (Sách Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn, quyển 2, trang 112).

“Những câu nói đầy cảm xúc đó, không thể bỏ qua một cách đọc phê phán… lối nói cường điệu phản ánh thái độ thất vọng của nhà vua hơn là soi sáng một thực tế của nền quan lại: một trong những quan tâm thường xuyên của suy nghĩ chính trị ở Việt Nam, là một nước chỉ có thể cai trị tốt với điều kiện bộ máy hành chính phải nhẹ nhàng…” (Trích sách “Quan và lại ở miền bắc… của Emmanuel Poisson, tr. 54).

Dưới triều Minh Mệnh và Tự Đức, thư lại làm việc trong các tỉnh phía bắc của nước Đại Nam, liên tục giảm, theo như các số liệu dưới đây:

Năm 1831 số thư lại của các tỉnh miền bắc có          1.072 người

Năm 1832                 –                                     1.032    –

Năm 1838                 –                                        708    –

Năm 1851                 –                                        713    –

Năm 1867                 –                                        585    –

Dưới thời Hồng Đức (1470 – 1497), Lê Quý Đôn cho biết, số viên chức của các bộ là 5.398 người, đến thời Lê Trung hưng (năm 1533), số này giảm xuống còn 500, nghĩa là trong vòng 60 năm số viên chức đã giảm đi 90%.

(Nguồn: sách đã dẫn, trang 55, 56)

Nêu những con số trên để nói lên rằng triều Nguyễn rất coi trọng việc làm cho bộ máy gọn nhẹ, chứ không có ý nói chính quyền mới hiện tại cũng phải giảm số công chức tương xứng như vậy, bởi nền kinh tế và mọi mặt của xã hội ngày nay khác xưa rất lớn.

Trong một lần gởi một kiến nghị nhỏ lên nhà nước, tôi đã đề nghị sáp nhập một số địa phương (tỉnh, huyện) lại để giảm bớt bộ máy trong một điều kiện rất thuận lợi là công nghệ thông tin đang phát triển như vũ bão. Ngày xưa, một chiếu chỉ của nhà vua muốn đưa xuống các ông tổng đốc (quan đầu tỉnh), gần thì cũng mất một tuần, xa thì phải tính hàng tháng, vì phải dùng phu trạm, dùng ngựa chạy từ địa phương này qua địa phương khác. Sau giải phóng, phương tiện chỉ có telex và máy fax, thế mà ta đã mạnh dạn sáp nhập rất nhiều tỉnh lại với nhau. Nay, chỉ cần một cái nhấp “chuột” thì mọi thông tư, chỉ thị của nhà nước đã tới những vùng xa xôi nhất, thậm chí ra tận hải đảo.

Vậy xin hỏi: Phương thức sản xuất đã thay đổi, tại sao tổ chức quản lý không thay đổi? Đây là kinh tế chính trị học Marx – Lenin, chắc các vị vẫn chưa quên!

Tháng Bảy, 2018

Ph. T. Kh.

(Hình trong bài: Tranh của NOP 15)

 

Add a Comment

Your email address will not be published.