Paphiopedilum coccineum

P. coccineum

Paphiopedilum coccineum Perner & Herrmann

Cùng loài

Paphiopedilum barbigerum var. lockianum Averyanov

Dẫn nhập

Chúng tôi đưa Paphiopedilum coccineum vào cuộc trao đổi này với một chút hoài nghi chính đáng về việc phân loại liệu có chính xác hay không. Cây lan này được mô tả dựa trên một cây mẫu được nhìn thấy trong một tài liệu thuộc một người chơi lan nghiệp dư ở Việt Nam, người đó cho biết, cây lan này được sưu tập từ Cao Bằng, miền bắc Việt Nam. Hiện nay cây lan này được nuôi trồng dưới cái tên “Paph. helenae đỏ”, một sự định danh mà chỉ làm rõ sự giống nhau về cấu trúc với Paph. barbigerumPaph. helenae. Còn Perner & Herrmann thì vẫn xác định đó chính là Paph. coccineum không có mối liên hệ nào giữa hai loài nói trên. Chúng tôi đồng ý với ý kiến của những người này. Nếu như không có sự khác biệt về hình thái học của tấm nhụy lép, thì chúng tôi không ngần ngại mà đồng ý với những ý kiến đó là một biến thể loài đơn sắc Paph. barbigerum.

Hình dạng của miếng nhụy lép, dù sao nó cũng tương tự như miếng nhụy lép của Paph. herrmannii. Riềm của những lá đài sau và cánh hoa gợi nhớ lại những đặc tính hình thái học của các loài đó. Chúng tôi phải chờ cho đến khi tính chất của hai loài Paph. herrmanniiPaph. coccineum được khảo sát một cách đầy đủ rồi mới phân loại một cách chính xác.

Nguồn gốc tên gọi

Căn cứ vào sắc đỏ tràn ra ở phần tâm của lá đài sau để đặt tên cho loài Paph. coccineum.

Mô tả

Paphiopedilum coccineum là một loài thảo mộc mọc thành bụi, nơi có nhiều lá mục. Mỗi nhánh cây có từ bốn đến năm lá. Lá thường mọc đứng thẳng, đôi khi hơi cong một chút, lá cứng và đôi khi thấy hơi dầy, hơi mọng, mặt trên của lá có màu xanh đậm, mặt dưới xanh lợt, lá nhọn như mũi mác, đầu lá nhọn, dài 9 đến 13 cm, rộng 1 đến 1,4 cm, mặt dưới của lá có sống lá , phần chân lá tràn một màu đỏ. Mỗi vòi hoa thường chỉ có một bông hoa, vòi hoa không hoàn toàn thẳng đứng, dài chừng 23 cm, đường kính chừng 3 mm, bao phủ bởi một lớp lông ngắn. Lá bắc dài 2,5 cm, rộng 9 mm, hình ô-van đến ê-lip, lá gập đôi theo chiều dọc, lá bắc ôm lấy phần dưới của bầu nhụy với chiều dài khoảng 3 cm, đường kính 2,5 mm. Lá bắc và bầu nhụy được bao phủ một lớp lông ngắn và có những chấm màu nâu đậm. Hoa có kích thước 6 cm đo theo chiều ngang. Lá đài sau dài 3 cm, rộng 2,6 cm, có đường sống nổi mặt sau, phần ngoài cũng như riềm có lông ngắn, khu vực tâm của lá đài sau có màu đỏ son với những đường vân đậm màu hơn, và khu vực này được bao quanh bởi một màu trắng của mép lá. Lá đài kép dài 2,4 cm, rộng 1,3 cm, hình mũi mác, hơi uốn cong, màu xanh sáng. Các cánh hoa màu cam pha nâu, với những đừng sọc màu nâu đỏ chạy theo dọc và phần riềm nổi bật. Các cánh hoa trông hơi giống cái lưỡi động vật, đầu tù, hình tứ giác, dài 3,6 cm, rộng khoảng 1 cm, màu nâu hạt dẻ, ngoại trừ mặt trong của riềm có màu xanh chuyển sang màu nâu ở phần chân của mặt ngoài. Mép các cánh hoa quăn và giống như các loài có quan hệ khác, ở phần chân có một túm lông màu nâu đậm, riềm gần như có lớp lông mịn. Môi chia làm ba thùy, dài 3,7 cm và khe hở (giữa hai thùy) rộng 2,6 cm, hẹp dần ra phía đầu, mặt ngoài láng bóng. Hai thùy bên cuộn lại vào trong. Thùy chính là một cái túi sâu, màu nâu đỏ sáng, chung quanh mép của khe hở hẹp có màu vàng đất. Tấm nhụy lép hình trái tim ngược, dài 1,4 cm, rộng 1,2 cm, đầu nhọn có một đường rãnh, chia thành hai phần chìa ra sang hai bên. Mặt dưới miếng nhụy lép nhô ra một cái u màu vàng lưu huỳnh.

Phân bố và thói quen sinh trưởng

Xuất xứ Việt Nam. Paphiopedilum coccineum được thông báo là sưu tập chúng ở Cao Bằng, miền cực bắc của Việt Nam. Điều này chưa được xác nhận, và vì vậy cũng không có thông tin nào về thói quen sinh trưởng của chúng.

Mùa ra hoa

Trong vườn trồng, Paphiopedilum coccineum nở hoa vào tháng Mười qua đến tháng Mười một./.

Add a Comment

Your email address will not be published.