Paphiopedilum villosum

P. villosum

Paphiopedilum villosum (Lindley) Stein

Tên cũ

Cypripedium villosum Lindley

Đồng nghĩa

Cordula villosa (Lindley) Rolfe

Dẫn nhập

Paphiopedilum villosum được Thomas Lobb phát hiện vào năm 1853 ở vùng núi của huyện Mawlamyine (trước kia là Moulmein) ở miền đông nam Myanmar (trước kia là Burma), cách mặt nước biển 1.600 m. Lần đầu tiên cây này được nhập vào nước Anh bởi Veitch trong cùng một năm (1853), và được ghi chép trong bản tin Reverend C. Parish, rất phổ biến ở vùng này. Tác giả bài báo đã đưa vào nhiều loài trong chủng này (Paph. affine, Paph. boxallii, Paph. dilectum, Paph. gratrixianum). Khi đó các thực thể Paph. affinePaph. dilectum làm cho mọi người khá bối rối, chúng tôi thì coi Paph. boxallii là một biến loài của Paph. villosumPaph. gratrixianum là một loài riêng biệt.

Nguyên gốc

Loài này  được đặt tên là villosum vì cuống hoa, bầu nhụy và các thành phần khác của hoa được che phủ bởi nhưng lông mềm và khá dài.

Mô tả

Paphiopedilum villosum là một loài thảo mộc, cây mọc thành từng cụm, thường mọc ở những nơi có lá cây đã bị phân hủy. Mỗi thân cho ta bốn đến năm lá. Cây có thể đạt chiều cao tới 30 cm. Hình dạng của lá giống mũi mác hẹp hoặc giống cái lưỡi động vật thẳng, dài 14 đến 42 cm, rộng 2,5 đến 4 cm, đầu nhọn, đỉnh chia làm ba thùy nhọn, hướng hơi chếch lên trên, màu xanh vàng đậm. Phần chân của mặt dưới của lá có những đốm màu đỏ tía, phần chân của mép lá có lông mịn. Vòi hoa mọc xiên hoặc uốn cong, dài 7 đến 24 cm. Hoa thường có màu xanh đậm, với những chấm đỏ tía, phủ kín bởi lớp lông dài và cứng, màu tím đỏ, thông thường trên mỗi vòi hoa có một hoa. Lá bắc của hoa hình ê-lip, đầu tù, dài 3,7 đến 6,5 cm. thường thì dài tương đương bầu nhụy, rộng 3 đến 3,8 cm, màu xanh với những chấm màu hạt dẻ. Cuống hoa và bầu nhụy nếu ta cắt ngang thì nó có hình tam giác, dài 2 đến 6 cm, màu đất, và bao phủ một lớp lông cứng màu đỏ tía. Nhìn chung, hoa to 7,5 đến 11,5 cm, nhưng chúng có thể to một cách đáng ngạc nhiên (tới 15 cm, theo chiều ngang), với mặt ngoài như tráng một lớp véc-ni. Lá đài sau hình trứng ngược, đầu tù, dài khoảng 4,5 đến 6,5 cm, rộng 3,5 đến 4 cm, có lông tơ. Ở phần chân của lá đài có mép đối xứng nhau. Màu của lá đài sau là màu xanh sáng, pha với màu đỏ tía ở hai phần ba tính từ chân lên, có một giải băng trắng dọc theo mép lá đài, và ở tâm có những vân với màu đậm hơn. Lá đài kép, thường thì kẹp lấy bầu nhụy, hình trứng, đầu hơi nhọn, dài 3,8 đến 5 cm, rộng 1,8 đến 2,7 cm, màu xanh sáng pha vàng. Các cánh hoa dài 4,6 đến 7 cm, rộng 2,5 đến 3 cm, hình dạng cái thìa đến cái thìa ngược, riềm mở ra làm đầu cánh hoa rộng ra, làm cho đầu cánh hoa trở nên tròn. Riềm của các cánh hoa gợn sóng với lông tơ ở biên, phần chân có lông cứng màu đỏ tía, hơi cuộn vào trong, có những vân màu đỏ nâu đến màu hạt dẻ. Ở phần trên, chia theo chiều dọc thì một nửa có màu nâu vàng đến màu nâu đỏ, ở nửa dưới thì màu xỉn hơn. Môi của hoa trông như cái mũ kết lật ngược, dài 4 đến 6 cm, rộng 3 đến 3,8 cm, hơi hất ngược lên với cái miệng rộng. Chiếc mũi hài có màu vàng nâu sáng, pha với màu hồng hoặc đỏ, có những đường vân đậm màu hơn, chung quanh có màu vàng hung hung. Miếng nhụy lép biến thành hình nửa trái tim cụt, dài 1,6 cm và hơi bị hẹp. Có một chi tiết như mụn cơm (cóc) có nhiều lông màu vàng hung hung, với một chi tiết giống cái sừng ở giữa mặt dưới, và một u lồi ở mép dưới.

Phân bố và thói quen sinh trưởng

Gốc là ở miền bắc Thailand, miền nam Trung hoa, miền tây Myanmar, và đông bắc Ấn độ. Ở Ấn độ, Paphiopedilum villosum được tìm thấy ở Assam và Lushai Hills của tỉnh Mizoram. Ở Myanmar, người ta tìm thấy các cây của loài này ở Chin Hills. Paphiopedilum villosum mọc trong những vực có cây cao ở độ cao 1.100 đến 2.000 mét. Chúng mọc thành từng cụm và rễ của chúng bám chặt vào các cây chủ hoặc các tảng rêu hoặc dương sỉ. Thói quen sinh trưởng của chúng là nơi ẩm ướt quanh năm. Ngoài ra, vào mùa hè thường có mưa gió mùa, sương đêm và sáng sớm, tạo ra ẩm ướt, và sương mù là thường thấy vào mùa đông khô cạn.

Mùa ra hoa

Hầu hết loài Paphioedilum villosum được biết là ra hoa từ tháng Giêng qua tháng Tư. Nhưng cây mẫu đưa về thì được báo cáo là ra hoa quanh năm.

Các biến loài và biến thể

Có một số biến loài từ Paphiopedilum villosum đã được mô tả. Hầu hết những cây này chỉ khác biệt chút ít với cây nguyên mẫu. Hầu hết những bạn đọc quan tâm thì đều tham khảo từ các tài liệu chính thống (Linden et al, 1885-1906; Pucci, 1891; Desbois, 1898). Những cuộc tranh luận ở đây thường xoay quanh những khác biệt./.

Add a Comment

Your email address will not be published.