Paphiopedilum hirsutissimum

P. hirsutissimum album

Paphiopedilum hirsutissimum (lindley ex Hooker) Stein

Tên cũ

Cypripedium hirsutissimum Lindley ex Hooker

Trùng tên

Cordula hirsutissima (Lindley ex Hooker)

Paphiopedilum saccopetalum Hua

Dẫn nhập

Các cây Paphiopedilum hirtissimum được đưa vào nước Anh lần đầu tiên bởi một người sưu tập có tên là Simons. Chính xác nguồn gốc cây này từ đâu, vẫn chưa rõ cho đến khi John Day nhận được vài cây cùng loài từ người anh em họ với ông ấy, đại úy Williamson, người này đã thu thập được ở Khasia Hills, đó là thuộc một bang lớn Assam của Ấn độ. Phần đất này bây giờ là một phần của bang Meghalaya. Bản mô tả của Hooker là dựa trên các ghi chép của John Lindley.

Vừa qua cây này được nói trong sách như là Paph. saccopetalum (Hua 1998) như là một thể khác của Paph. hirsutissimum (hoặc là Paph. esquirolei) với các cánh hoa đã biến dạng. Mặc dù tác giả  đã trình bày rằng các cây này khác xa với hai nhóm sau, như các lá của chúng cứng hơn, ngắn hơn và hẹp hơn, cũng như miếng nhụy lép sắc bén hơn, chắc chắn rằng nhóm này đại diện cho một sự khác lạ. Không có gì bảo đảm rằng cây này đã được phân loại.

Nguồn gốc tên gọi

Tên hirsutissimum, căn cứ vào lớp lông nhung dầy đặc bao phủ cán hoa, lá bắc, bầu nhụy, và toàn bộ mặt sau của hoa có lông dài, trải rộng.

Mô tả

Paphiopedilum hirsutissimum là một loài thảo mộc, thường mọc ở những nơi các thân cây đã bị mục. Mỗi thân mang trên nó năm đến sáu lá, mỗi lá dài 16 đến 45 cm, rộng 1,5 đển cm, một màu xanh đều, là hình lưỡi thẳng hoặc hình mũi mác thẳng, đỉnh là sắc nhọn hoặc tù, chia hai thùy. Vòi hoa dài 30 cm, thường là màu xanh, phủ một lớp lông màu đỏ tía, và thường cũng chỉ có một hoa, cuống hoa uốn cong ở phần gốc và có lớp vỏ bọc dài khoảng 11 cm. Lá bắc dài 1,5 đến 2,8 cm, bằng một phần ba bầu nhụy, hình ê-lip, đầu tù hoặc hơi nhọn. Lá bắc và bầu nhụy, gần như là ôm lấy hoa và được phủ một lớp lông màu gần như đen. Hoa lớn có chiều cao 10 đến 15 cm và tất cả các thành tố đều có lông. Màu cơ bản của lá đài sau có thể là vàng xỉn hoặc xanh xỉn, phần tâm và khu vực phần chân có những chấm nhỏ, sẫm màu, gần như đen, riềm lá đài sau rộng với màu từ xanh đậm đến xanh xỉn hoặc vàng xỉn. Lá đài sau có hình tim rộng đến hình ô-van ê-lip, đầu không nhọn, mặt sau có đường sống gân , dài 3,8 đến 4,5 cm, rộng 2,5 đến 4 cm, riềm của nó có lông mịn và gợn sóng. Lá đài kép cũng tương tự như vậy song nhỏ hơn, hình trứng với màu xanh xỉn, dọc theo các đường vân có điểm thêm màu đỏ tía, chiều dài đo được 3,2 đến 3,7 cm, rộng 1,2 đến 2,2 cm. Các cánh hoa dài 5,5 đến 7,5 cm, rộng 1,2 đến 2,2 cm, trông như cái muỗng có khi hẹp khi rộng, cánh hoa hơi hướng lên trên, hoặc đôi khi là chúc xuống dưới, riềm cánh hoa hơi quăn và phần chân cứng hơn và quăn nhiều hơn. Phần chân quăn nhiều có màu xanh hoặc vàng xỉn, có những vết đốm màu đỏ tía đậm, đỉnh có một ít lông màu gần như là đen. Phần đầu cánh hoa mở rộng ra với màu đỏ tím sáng, riềm có lông tơ. Túi (mũi hài) có hình như cái mũ kết lật ngược, dài 3,5 đến 5 cm, rộng 2 đến 3 cm, màu xanh xỉn mờ hoặc vàng xỉn mờ, có những vết đỏ hồng đến đỏ nâu, với những chấm như mụn cóc màu đen mờ. Miếng nhụy lép, dài 10 mm, rộng 8 mm, gần như là vuông, màu vàng xỉn đến xanh với những chấm màu đỏ tía chạy dần xuống phía chân, màu nâu đậm chuyển dần lên điểm giữa với đốm trông giống hai con mắt. Cuống hoa và bầu nhụy dài 5 đến 7,5 cm phủ đầy lông dài.

Phân bố và thói quen sinh trưởng

Sinh trưởng ở vùng đông bắc Ấn độ và Trung quốc. Paphiopedilum hirsutissimum được tìm thấy ở vùng Mizoram. Nagaland và Manipur. Vùng này ở gần biên giới Myanmar ở Naga và Lushai Hills, trên độ cao 700 đến 1.200 m. Các cây lan này thường mọc ở những nơi có nhiều cây mục, dưới gốc các cây lớn. Đôi khi cũng tìm thấy chúng trên đá có phủ rêu dọc theo các triền đồi, song người ta thường tìm thấy chúng trên chạc của các cành cây, ở đó có chứa các lá mục và rêu.

Mùa ra hoa

Paphiopedilum firsutissimum có mùa hoa chính là từ tháng Ba qua tháng Năm, nhưng có báo cáo cho biết cây này lại ra hoa vào thời gian khác trong năm.

Biến loài và biến thể

Paphiopedilum hirsutissimum có khá nhiều biến loài và người ta cũng đã tìm thấy một số trong các sách về thực vật. Những biến loài này không được công nhận theo cách khoa học. Cây biến loài có thể là thể albino của Paph. hirsutissimum do Gruβ cho là chúng thuộc một khái niệm về Paph. esquirolei và tiếp tục được thảo luận./.

Add a Comment

Your email address will not be published.