Paphiopedilum braemii H. Mohr

P. braemii copy

Phân giống (Subgenus) Sigmatopetalum (Tiếp)

Bài 54.

 

Phân giống (Subgenus) Sigmatopetalum (Tiếp)

Bài 55. Paphiopedilum braemii H. Mohr

Trùng tên

Paphiopedilum tonsum var. braemii (H. Mohr) Gruβ

Dẫn nhập

Paphiopedilum braemii được những du khách của Đức thu thập lần đầu ở miền bắc đảo Indonesian của Sumatra. Cây này sau đó được trồng ở Đức và ra hoa lần đầu vào cuối mùa xuân năm 1989. Cây này sau đó được chuyển cho H. Mohr, vừa là dược sĩ lại vừa là nhà thực vật học, và đã viết một bài được in vào tháng Mười hai trong cùng một năm, trong đó nói rằng đây là một dòng lan khác.

Mặc dù có một số tác giả cho rằng Paphiopedilum braemii là biến loài của Paph. tonsum, song có thể coi hai dòng này là khác nhau. Trong khi màu của hoa Paph. tonsum là đỏ, còn hoa của Paph. braemii lại là màu xanh và những thành phần của hoa cũng ngắn hơn, hẹp hơn và môi của nó cũng chỉ bằng 30 đến 50% nhỏ hơn so với Paph. tonsum. Hơn nữa, điểm quan trong nhất đối với dấu ấn của một dòng lan, là sự khác nhau về cấu trúc của trụ hoa. Ngoài ra, hình dạng của hai miếng nhụy lép cũng rất khác. Những khác biệt này, cũng đã được thảo luận khi nói về phức hệ Paph. tonsum ở bài trước, chắc chắn rằng những điều đó đã đủ để xác định Paph. braemii là một loài.

Nguồn gốc tên gọi

Xuất phát từ tên một nhà thực vật học người Đức tên là Giáo sư Tiến sĩ Jozef Braem (1944) dòng dõi Belgique (Bỉ).

Mô tả

Paphiopedilum braemii là một loài thảo mộc, sống trên nơi có lá mục. Cây cao chừng 23 cm. Lá có hình ô-van thuôn, đầu nhọn hoặc gần như nhọn, dài tới 15 cm và rộng chừng 4 cm, giữa có đường gân sống nổi rõ, mép lá không có răng cưa hoặc có răng cưa nhỏ. Mặt dưới của lá chỉ có một màu xanh ngả xám. Mặt trên của lá màu xanh cỏ, và có những đốm không đồng nhất màu xanh đậm. Vòi hoa thường chỉ có một hoa. Cuống hoa hình ống mép gấp lại, màu xanh xám, và phủ kín một lớp lông trắng. Lá bắc màu xanh tỏi tây, nhỏ và gập lại, đầu nhọn, có lông, và che phủ lên 1/3 bầu nhụy. Bầu nhụy màu xanh và có lông. Hoa có chiều cao khoảng 9,5 cm, đó chiều ngang được 11 cm. Lá đài sau hình ô-van rộng, đầu nhọn, có sống gân, và phần trên của riềm cuộn vào phía trong. Màu trằng, ở tâm thuộc phần chân của lá đài sau màu xanhh và những vân sọc chạy theo chiều dọc, trên mặt lá đài đều phủ lông. Lá đài sau cao chừng 4,6 cm, rộng đến 3 cm. Các lá đài bên hợp nhất thành lá đài kép, hình ô-van hẹp, đầu nhọn, dài chừng 3 cm, rộng khoảng 1,8 cm, có màu giống như màu của lá đài sau. Các cánh hoa có đường kẻ hẹp và trũng như cái muỗng (thìa), đầu nhọn, dài chừng 5,5 cm, rộng đến 1,8 cm, riềm của mỗi cánh hoa đều có lông tơ. Màu của các cánh hoa là xanh rêu nhưng rải rác có những đốm nâu đậm, mặt cánh hoa nhẵn sáng. Ba thùy của môi có chiều dài 3,8 cm, rộng 2 cm và sâu 2,4 cm. Các thùy bên cuộn vào bên trong tạo thành cái ống, phủ một lớp lông mềm. Thùy chính của môi có dạng như cái mũ kết lật ngửa,  có chi tiết phụ hai bên khá lớn, màu xanh ô-liu mặt trước ánh lên màu mâu và đen, đặc biệt là ở mặt trong có nhiều đốm đỏ tía. Toàn bộ cái túi (hài) có những đừng vân đỏ và phủ một lớp lông ngắn trắng, ngoại trừ phần mép của túi thì có những lông cứng ánh đỏ. Miếng nhụy lép có cuống màu xanh pha vàng, cao chừng 1 cm và rộng 1,4 cm. Nó có hình bán nguyệt, có xẻ một khe hẹp ở phần đầu, phần cuối thì rộng hơn. Ở giữa của khe rãnh này có một chỗ màu xanh rêu.

Phân bố và thói quen sinh trưởng

Xuất xứ ở vùng tây nam Sumatra. Sau đó không có thông tinn gì thêm

Mùa ra hoa

Trong nuôi trồng, Paphiopedilum braemii ra hoa từ tháng Tư qua tháng Tám./.

Add a Comment

Your email address will not be published.