Paphiopedilum canhii

P. canhii

Phân giống Megastaminodium (Tiếp theo và hết)

73) Paphiopedilum canhii Everyanov & Gruβ

Dẫn nhập

Paphiopedilum canhii lần đầu tiên được ghi nhận khi người dân H’Mông (Mèo) của vùng sâu vùng xa ở miền bắc Việt Nam, mang một số cây đến cơ quan của ông Chu Xuân Canh, cán bộ của tổ chức Nguồn tự nhiên và Đồng bào dân tộc thiểu số, vào tháng Mười một năm 2009. Một số cây được ông Canh chăm sóc nên đã ra hoa vào thàng Ba năm 2010 và điều đó đã làm thay đổi những gì được biết trước đó. Các cây này đã được nâng lên thành nhóm và đã được Averyanov mô tả trong tạp chí Orchids vào năm 2010. Do bản công bố này chứa đựng các đoạn không có giá trị phù hợp với Mã số của Nguyên tắc phân loại cây lan (Code of Plant Taxonomy), vì vậy loài này cần đã được công bố lại cho có giá trị.

Vấn đề chính đối với cây này, đứng trên quan điểm của nhà thực vật học, thì đó là cách phân loại trong phạm vi một giống. Vì Paphiopedilum canhii là một loài có một hoa hợp với loài có lá gấm, rõ ràng rằng nó không thuộc về loài trong phân giống Cochlopetalum (nhiều hoa), Polyantha (nhiều hoa) và Paphiopedilum (lá không có vân). Vì thế không có sự tương đồng  về màu sắc và/hoặc hình dạng giữa các cánh hoa và lá đài, phân giống Brachypetalum cũng phải bị loại ra, nó phải là phân giống Parvisepalum, bởi vì lá đài sau của Paph. canhii rõ ràng là không nhỏ hơn các cánh hoa.

Vì thế, chúng tôi để nó vào phân giống Sigmatopetalum. Một thực thể phù hợp với những cây chỉ có một hoa trên vòi hoa và có lá gấm. Song tất cả các loài thuộc về phân giống Sigmatopetalum cũng có đặc điểm là những cái túi với cái tai hai bên rất phát triển và những cái lá gấm. Nhưng tất cả các loài thuộc phân giống Sigmatopetalum cũng có những đặc điểm tương tự với hai cái tai phát triển, nhưng những đặc điểm đó lại không có ở Paph. canhii, ở đây chúng ta chỉ thấy cái túi rất tròn không có cái tai nào cả.

Hơn nữa, Paphiopedilum canhii lại có một vài đặc tính khác mà những đặc điểm đó lại không thấy trong bất cứ loài lan hài nào của châu Á, nhưng những khác biệt được ghi trong đoạn mô tả trước có thể đủ để hiểu rằng, không cần thiết phải hình thành một phân giống mới trong phạm vi giống Paphiopedilum để được phù hợp với loài lan đặc hữu này. Phân giống mới Megastaminodium đã được Braem & Gruβ công bố trong Orchid Digest vào ngày 1 tháng Bảy năm 2011.

Nguồn gốc tên gọi

Paphiopedilum canhii được đặt tên để vinh danh một người trồng lan Việt Nam là một viên chức chính phủ đó là Canh Chu Xuân.

Mô tả

Paphiopedilum canhii có nguồn gốc thảo mộc. Mỗi cây có từ 2 đến 7 lá hình ê-lip đến hình trứng, lá dài 3 đến 8 cm, rộng 1 đến 2,5 cm. Diềm lá hơi quăn và đầu lá chỉ hơi nhọn. Mặt trên của lá khảm những vân màu xanh đậm và sáng. Mặt dưới của lá màu xanh xỉn và có những mảng màu tím đậm. Vòi hoa hướng lên trên, thường chỉ mang một hoa. Cuống hoa dạng ống, dài 3 đến 10 cm, màu xanh đậm, đôi khi tô thêm màu đỏ tía, phủ một lớp lông cùng màu. Lá bắc của hoa gập lại, hình ê-lip ô-van hẹp, đầu nhọn, dài 0,8 đến 1,4 cm, rộng 3 đến 5 mm, màu xanh và có lông ngắn màu tím ô-liu. Đo chiều ngang của hoa được 6 đến 8 cm. Lá đài sau hình ô-van hoặc ô-van rộng, đầu nhọn, dài 1,5 đến 3 cm, rộng 1,4 đến 2 cm, màu trắng, ở phần chân pha màu xanh nhạt, nửa dưới của lá đài có 5 đến 11 sọc màu đỏ tía. Mặt ngoài của lá đài sau phủ đầy lông ngắn. Lá đài kép hình ô-van hẹp đến ô-van, đầu nhọn, dài 14, đến 2,2 cm, rộng 0,7 đến 1,4 cm, hầu như chỉ có một màu xanh mờ đến trắng, đôi khi có hai sọc màu đỏ tía. Mặt ngoài của lá đài kép có lông. Các cánh hoa hình cái nêm, phần chân rộng hẹp dần lên phần đỉnh, đầu hơi nhọn, hơi trải phẳng theo chiều ngang. Các cánh hoa dài 2,8 đến 4 cm, rộng 0,5 đến 0,7 cm, màu xanh nhẹ đến xanh hồng, đi xuống phần chân có màu xanh đậm, lên gần đỉnh thì có 7 đến 9 sọc theo chiều dọc, màu tím đỏ, và có lông tơ dài dọc theo diềm gợn sóng không đều. Phần diềm ở dưới thấp được trang điểm những mấu trong suốt như thủy tinh, màu tím đậm. Môi có ba thùy. Hai thùy bên cuộn vào tạo thành cái ống như thường thấy. Thùy chính tạo thành cái túi sâu. Môi dài 2 đến 3,5 cm, rộng 0,8 đến 1,5 cm, màu xanh mờ nhẹ, với một đường kẻ mà đỏ tía pha nâu sáng trên các thùy bên trơn, bóng đã cuộn vào. Đáy bên trong của túi ken dầy những mấu trong như thủy tinh, phần đầu của các mấu này có màu tím đậm. Trụ hoa ngắn và rộng, dài 3 đến 4 mm, màu xanh nhẹ đến xanh sáng. Các nhụy hoa có hình thon dài như dây tơ, đầu tù. Các dây tơ có màu từ ánh xanh đến xanh. Nắp phấn hoa hình cầu, màu từ vàng đến cam. Phấn hoa màu cam. Miếng nhụy lép khá to, dài 8 đến 14 mm, rộng 5 đến 10 mm, hình ô-van rộng đến hình ô-van dạng ê-lip, nguyên khối, phẳng, có khía sâu và ở đỉnh như cái móc; toàn thân màu trắng đến xanh nhạt, với rải rác những chấm màu xanh ngả vàng đến xanh đậm. Cái cuống nhỏ và bầu nhụy dài 1,5 đến 3 cm, màu xanh đậm phủ đầy lông mịn màu tím ô-liu. Trái của nó khi già thì khô, một quả nang thân hẹp, có các khe, dài 2 đến 3,5 cm, đường kính của trái chừng 5 mm.

Phân bố và thói quen sinh trưởng

Paphiopedilum canhii mọc trong các khu rừng lá lớn trên nền đá vôi, ở độ cao 900 đến 1.200 m ở tỉnh Điện Biên của Việt Nam. Cây lan này mọc trên các vỉa đá thẳng đứng dưới bóng râm, rễ của chúng bán chặt vào khe đá không có chút đất nào.

Mùa hoa

Paphiopedilum canhii trong tự nhiên ra hoa trong tháng Ba và Tư, hạt trong quả nang nứt bung ra vào tháng Tám và tháng Chín./.

P. canhii in situ

Paphiopedilum canhii ngoài thiên nhiên

(Hết bài thuộc phân giống Megastaminodium. Loài thứ 74 thuộc phân giống Polyantha)

 

Add a Comment

Your email address will not be published.