Paphiopedilum glanduliferum

P. glanduliferum

Phân giống (Sub-genus) Polyantha (Tiếp theo)

89) Paphiopedilum glanduliferum (Blume) Stein

Tên cũ

Cypripedium glanduliferum Blume

Trùng tên

Cordula glanduliferum (Blume) Rolfe (lapsus)

Dẫn nhập

Loài này chỉ được biết đến từ một vật mẫu và mô tả cũng như minh họa trong cuốn Rumphia của Blume, vì thế vẫn còn các cuộc tranh luận rộng rãi về làm thế nào để phân loại cho đúng. Không may, mặc dù Blume đã mô tả khá chi tiết và độc đáo (xem ở dưới), nó vẫn đưa đến sự lúng túng vì vào thời điểm đó không có cây thực tế nào để giải thích cho bản mô tả đó.

Pfitzer, trong bản luận án của ông ấy về giống lan vào năm 1903, đã ghi nhận hai loài – Paph. glanduliferumPaph. praestans – và đã nói rõ sự khác nhau giữa chúng về hình thái học của miếng nhụy lép. Mặt khác, hầu hết các tác giả đã coi Paph. glanduliferumPaph. praestans là cùng loài, vì họ đã không xét đến hình thái học của miếng nhụy lép trong phạm vi một nhóm, vì thế vấn đề này phải được coi đó là điều quan trọng trước tiên. Điều này có thể là một sai lầm nghiêm trọng. Đương nhiên, khi chúng ta trở lại với những tài liệu xưa, chúng ta nhận ra rằng J. J. Smith (1913) đã công bố, “Không còn nghi ngờ gì nữa, bản mô tả của Blume và các tranh vẽ (của Paph. glanduliferum) chỉ ra những sự khác biết rõ ràng so với những gì mà Pfitzer mô tả về Paph. praestans; và nếu như bản mô tả và các hình vẽ của Blume là chính xác, thì chắc chắn là hai loài này khác nhau.

Cho đến nay, không có bằng chứng nào được đưa ra để chỉ rằng trường hợp này là không đúng. Một bản xác định của Asher đã viết vào năm 1981, như sau: “Thiếu vắng sự tranh cãi về điều Blume có sự lầm lẫn trong bản giới thiệu về bông hoa vẽ từng chi tiết của cây Paph. glanduliferum, trong đó xuất hiện một vài điểm không chắc chắn về sự phân định là hai loài khác nhau giữa Paph. glanduliferum với Paph. praestans.”

Vấn đề của bản mô tả đầu tiên trong đó có những điểm được nêu ra một cách chắc chắn và chi tiết, nhưng ở những điểm khác thì nhiều hay ít hãy còn mơ hồ, (nên nhớ rằng, những điểm nêu ra đó xuất phát từ vật mẫu đã khô) đã không được phân loại một cách chính xác từ những tài liệu đáng tin cậy suốt hai thập kỷ qua. Cái cây mà các ông Fowlie (1991), Cribb (1987, 1998), Braem (1988), Koopowitz (1995) và nhiều người khác nữa mô tả, đều không có một điểm chung nào với cái cây mà Blume giới thiệu. Vào năm 1995, Garay lần đầu tiên tiến hành thẩm định vấn đề này một cách chi tiết, và từ đó ông ấy đưa ra kết luận – vấn đề chính yếu nằm ở hình thái học của miếng nhụy lép – chi tiết này ở Paph. glanduliferum khác với Paph. praestans và có thể không tìm lại được vì cây mẫu đã được Zippel tìm thấy ở New Guinea. Trong cách đánh giá của Braem (1998), tác giả đã nương theo ý kiến của Garay; và Koopowitz trong hai bản cập nhật sau này của ông ấy, thể hiện trong bản “Checklist” vào năm 2000, 2012.

Các nghi vấn vẫn còn đó. Đương nhiên là thế, lạ một điều là cái cây được mô tả và minh họa trong tài liệu Rumphia lại không ai thấy lần nào nữa. Song tất cả chúng tôi đã có lần tìm lại được cây Paph. sanderrianum là cây mà đã coi như không tồn tại trong hàng thập kỷ và có lẽ đến nửa thế kỷ! Phải thừa nhận rằng, việc công bố loài Paph. glanduliferum là đồng loại với Paph. praestans thì quá dễ, nhưng nó không làm chúng ta hài lòng. Cribb (1998) đã rất đúng khi nói rằng, hình thái học của miếng nhụy lép là khác nhau giữa các loài ta đang xem xét, song nếu ta đi xa hơn nữa thì có thể trong cùng một loài mà miếng nhụy lép lại khác nhau, theo ý kiến của chúng tôi thì việc tiếp cận là vô cùng.

Chúng tôi đã coi lại bản văn đầu tiên cũng như bản văn thứ hai, và chúng tôi cũng đã nghiên nghiên cứu hàng trăm cây lan, từ đó chúng tôi có thể cho rằng cây Paph. glanduliferum là dòng phức hệ của Paph. praestans. Chúng tôi chưa hề thấy, bằng nhiều phương tiện, để tranh luận về cây mà Blume/Zippel đề cập. Vì thế chúng tôi vẫn giữ ý kiến cây Paph. glanduliferum là một loài riêng biệt.

Nguồn gốc tên gọi

Tên glanduliferum đặt theo các tuyến (glands) trên cánh hoa.

Mô tả

(Phần này được dịch từ nguyên bản của Blume)

Phần mà Blume nói về loài Cypripedium glanduliferum ở đoạn 195, hình số 2 (được gọi là C. insigne), và doạn 198A như sau: Nhìn bên ngoài thì không thấy nó có thân, lá dai như da, cứng, hình đai, với đầu lá tù và tròn, ở phần chân có khe. Cán hoa có lông, có một hoặc hai hoa. Lá đài sau hình mũi mác thuôn, nhọn mũi, diềm lá thường cong về phía sau. Các cánh hoa thẳng, đầu nhọn, diềm gợn sóng và phần chân có những tia với râu. Miếng nhụy lép uốn cong, kéo dài ra phía trước trông như cái mỏ chim phủ một lớp lông tơ. – Nơi sinh trưởng: Trong các khu rừng của New Guinea, trên những thân cây già đã mục. Thuộc loài C. insigne Wallich nhưng có các cánh hoa hẹp hơn, đầu rất nhọn và một miếng nhụy lép có cấu trúc hoàn toàn khác, vì thế nó rất khác biệt. C. javanicum, là một cây rất dễ phân biệt với cây C. venustum Wallich, một cây thuộc một loài cùng loài khác. – Rễ của nó mọc lên từ gốc, không phân chia, được phủ một lớp lông xám vàng như len. – Lá thường có từ bốn đến bảy lá, được sắp xếp lá ngoài nhiều và nhỏ, các lá trong dài 17,5 đến 25 cm, rộng 1,8 đến 3,8 cm, lá mọc hướng lên trên, dang rộng sang hai bên tạo thành góc gần 90 độ tính từ trục, đầu lá hơi tù và đôi khi chẻ đôi, mép lá hơi uốn về phía sau, màu xanh đậm, không có các đốm, gần chân cho rãnh, lên đến ngọn thì màu xỉn hơn, lá dai, chắc, cứng với những đường vân ken dầy ở mặt trên, mặt dưới có răng cưa sắc, mặt trên có một số chỗ trông như vết bỏng đã bị ăn mòn, có màu đồng sáng, lan ra thành màu da lợt. Cuống hoa phát ra từ tâm, hình ống, hướng lên trên, màu đỏ xỉn, có lông, thường có hai hoa, mỗi hoa có một lá bắc riêng và lớn. Các cánh hoa và lá đài có màu hồng ở mặt ngoài, ở giữa có màu xanh xỉn, màu của môi là màu vàng chuyển dần sang màu nâu sáng, mặt trên có các đường vân màu tím đậm và có khía sâu, phân nhánh mạnh; lá đài kép có xẻ rãnh; lá đài sau hơi ngắn, trũng lòng chảo và diềm cuộn về phía trên; các cánh hoa đặc biệt dài, đầu nhọn, quăn và có những cái mụn, trên nó có nhiều đường kẻ ngả màu nâu, và tất cả các đường kẻ đó đều hướng lên phía ngọn. Cánh giữa rộng, phẳng giống hình cái hài, mép của cả hai cạnh đều cuộn vào bên trong và tạo ra dáng chỉ lên phía trên. Bao nhụy ngắn, miếng nhụy lép ngửa về phía sau và bên ngoài hai nắp phấn cho thấy đáng tin hơn các loài cùng họ. Miếng nhụy lép uốn cong lên phía trên, có nhiều lông, phía trước của miếng nhụy lép được kéo dài thành cái đường gân sống lưng.

Phân bố và thói quen sinh trưởng

New Guinea

Paph. glanduliferium chưa bao giờ được sưu tập thêm kề từ khi có bản mô tả đầu tiên, vì thề không có thông tin gì hơn nữa./.

P. glanduliferum

Paphiopedilum glanduliferum

Add a Comment

Your email address will not be published.