Paphiopedilum glaucophyllum

P. glaucophyllum

Phân giống (Sub-genus) Cochiopetalum

103) Paphiopedilum glaucophyllum J. J. Smith

Cùng loài

Cypripedium glaucophyllum (J. J. Smith) Masters

Cordula glaucophylla (J. J. Smith) Rolfe

Paphiopedilum victoria-regina subsp. glaucophyllum (J. J. Smith) Wood

Dẫn nhập

Pahiopedilum glaucophyllum được tìm thấy ở gần núi Semeru (còn gọi là Mahameru), ở miền đông Java. J. J. Smith đã mô tả loài này vào thời điểm giám đốc Vườn thực vật ở Buitenzorg viết trong một bài báo của vườn đó. Sau đó, trong một lần hiệu chỉnh bài viết này (J. J. Smith 1907) tên người đầu tiên tìm ra loài này chính xác là J. Bekking. Ban đầu J. J. Smith mô tả rất sơ sài về Paph. glaucophyllum nhưng sau đó đã mô tả chi tiết hơn trong the Icones Bogorientis (J. J. Smith 1903)

Ngay sau lần tìm thấy chúng lần đầu, một lượng lớn các cây thuộc loài này đã được M. Rimestead gởi đến châu Âu và lần ra hoa đầu tiên đã được Charlesworth & Co. giới thiệu đến Hội Làm vườn Hoàng gia vào tháng Chín 1903. Và bắt đầu từ đó, loài lan này được trồng khá phổ biến và vẫn còn khá nhiều ngoài hoang dã nhưng vẫn đang bị đe dọa bởi ngành nông nghiệp và nạn phá rừng.

Paphiopedilum glaucophyllum tất nhiên có quan hệ với tất cả loài khác trong phân giống Cochlopetalum. Dù sao, nó khác với các loài khác bởi những tính chất ổn định như màu xanh xám lục của lá, lá đài sau không có những sọc lớn, các cánh hoa trắng với lông tơ dài, với những chấm đỏ tía và rất đối xứng nhau, một miếng nhụy lép tù đầu với số nhiễm sắc thể cũng khác. Vì thế, không có gì bảo đảm để coi dòng lan này không phải là một loài lan đẹp như những gì nó có, và đúng như những gì mọi người đã miêu tả, trừ M. W. Wood.

Nguồn gốc tên gọi

Tên glaucophyllum được căn cứ vào màu lá xanh xám lục của mặt lá, trên đó có một lớp phấn trắng mịn.

Mô tả

Paphiopedilum glaucophyllum là loài thảo mộc có thân ngắn. Lá có hình đai rộng, duỗi thẳng, đôi khi mép lá có gợn sóng, phần chân lá có lông tơ, phần đầu lá chia làm hai thùy tù đầu, không cân xứng, giữa hai thùy có răng nhỏ, mặt trên của lá có màu xanh lục ánh xanh lơ, với những vân màu đậm hơn, mặt dưới của lá hơi lợt hơn, sống gân của lá nổi rõ, lá dài 26 cm và rộng 5,5 cm. Vòi hoa hình trụ, dài tới 30 cm, màu đỏ tía đậm, bao phủ một lớp lông màu trắng, có nhiều hoa, mỗi lần có một hoa nở. Lá bắc của hoa dài chừng 1,5 cm, hình ô-van, phủ đầy lông tơ, màu xanh với những sọc màu đỏ tía, có răng cưa, ở phần đỉnh có một chi tiết như cái răng sắc, đầu lá bắc không nhọn. Bầu nhụy dài chừng 4,6 cm, màu xanh phủ đầy lông màu tím sẫm. Mỗi bông hoa cao 6,5 cm, rộng chừng 8,5 cm. Lá đài sau hình ô-van rộng, gần giống hình bán nguyệt, hơi gợn sóng, đỉnh như có răng cưa, mặt trong của lá đài có đường khe rãnh nông chạy theo chiều dọc, mặt ngoài có đường gân thô, cả hai nửa hơi cong lên, màu xanh sáng, khu vực diềm ánh lên màu xanh lục ngả xanh lơ. Có khoảng 12 đường sọc nhỏ màu xám đậm đến màu nâu sẫm, cong theo chiều dọc của lá đài, nhất là những sọc ở phần chân, mặt trong của lá đài bóng loáng, diềm và mặt ngoài có lông màu tím đậm, lá đài dài 3 cm rộng 3,2 cm. Lá đài kép hình ô-van, đầu tù, lõm hình chảo, mặt trong bóng loáng với những đường vân chạy theo chiều dọc, diềm và mặt ngoài có lông màu tím đậm, lá đài kép dài 2,6 cm, rộng 1,8 cm. Các cánh hoa dang sang hai bên theo chiều ngang, gần như một đường thẳng, diềm gợn sóng và quăn, cả hai mặt đều láng bóng, diềm có lông dài tới 3 mm, tạo thành hàng không có màu. Các cánh hoa dài tới 4,5 cm, rộng khoảng 1 cm, có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn thế. Mỗi cánh hoa có chừng chín đường vân màu trắng, chạy đến phần chân thì chuyển sang màu gần như xám, nhưng lên phần ngọn thì lại là màu hồng xỉn, khu vực quanh diềm và dọc theo đường vân lại có những nốt chấm nhỏ màu nâu đỏ. Môi có ba thùy, dài chừng 4,3 cm, rộng khoảng 2 cm, phần chân có màu trắng ngả xám, các thùy bên tròn rộng, cuộn vào trong, bao phủ bởi những đốm nhỏ màu đỏ tía sáng, thùy giữa tạo thành cái túi sâu, hai bên có hai tai nhọn, toàn bộ một màu hoa tử đinh hương, mép của túi có màu vàng xỉn, mặt trong của túi, trừ phần mép có nhiều lông màu tím đậm. Miếng nhụy lép khá to, hình ô van, trông thô, cao 1,2 cm, rộng chừng 1 cm, trong phần chân của nó có những lông ngắn màu tím đỏ đậm, còn ở những nơi khác thì màu đỏ tía ngả đen.

Phân bố và thói quen sinh trưởng

Ở Java. Các cây lan này được tìm thấy ở bờ biển đông nam trên độ cao 200 đến 700 m. Chúng thường mọc trên những khe vách đá xốp, leo trên đá vôi bằng bộ rễ bám chặt vào rêu và mùn lá mục gần nơi có nước chảy.

Mùa hoa

Giống như các loài thuộc giống phụ Cochlopetalum, Paphioepdilum glausophyllum duy trì vòi hoa của chúng và tiếp tục ra hoa trong một thời gan dài. Cây mẫu ra hoa từ 1899 qua đếnnăm 1903 (J. J. Smith 1903).

Biến loài và biến thể

Vào năm 1907, J. J. Smith đã mô tả là cây Paphiopedilum glaucophyllum var. maquetteanum. Cây lan đó đã thành chủ đề gây ra tranh luận về trạng thái là một dòng riêng biệt. Nhiều người như Wood (1976, được cho là Paph. victoria-regina subsp. glaucophyllum var.), Karasawa &Saito (1982), Cribb (1987, 1998) và Braem (1988) vẫn giữ quan điểm chúng là một biến loài của Paph. glaucophyllum nhưng Asher (1980, 1985), Fowlie (1985) và Koopowitz (1995, 2000, 2012)  lại cho rằng đó là một loài riêng biệt. Thực tế là Paph. moquetteanum khác xa với vẻ bề ngoài của Paph. glaucophyllum và vì thế mà chúng tôi vẫn muốn coi chúng là một loài riêng./.

P. glaucophyllum

P. glaucophyllum

Add a Comment

Your email address will not be published.