SỐNG Ở LÀNG, CHẾT Ở LÀNG

Dam cuoi
SỐNG Ở LÀNG, CHẾT Ở LÀNG (Tiếp theo)
 
Làng tôi cách thị trấn tỉnh lị có mười bảy cây số. So quãng đường thì khoảng cách ấy cũng chỉ bằng từ huyện Nhà Bè đến sân bay Tân sơn nhứt của thành phố HCM thôi, mười bảy cây số thời ấy khác chi một trăm bày mươi cây! Chỉ có nhà giàu mới có cái xe đạp, nhà nghèo quanh năm cuốc bộ. Có đôi dép thì cũng phải để khi nào có “việc trọng” thì mới dám xỏ chân vào. Thậm chi có người sợ mòn nhanh nên cắp nách, chỉ đến gần nơi dự đám mới dám xỏ chân. Vậy thì lấy gì mà đi một quãng đường tới gần hai chục cây số?
 
Ấy vậy mà trong làng tôi cũng có ông đến được cái thị xã đó. Ông suy đi tính lại mãi mới dám vào hàng phở gọi một bát. Về làng gặp ai ông cũng khoe, “tây nó sinh ra phở tài thật !”.
 
Bọn trẻ trong làng, cũng có lần lên quốc lộ chơi. Chẳng là quốc lộ chỉ cách làng tôi có một cánh đồng, ngày xưa như vậy đã là xa lắm. Bố mẹ mà biết thì không bị ăn mấy cái roi cũng bị la rầy đến thối ruột. Bọn trẻ lên đó để làm gì? Để xem cái xe chở khách chạy bằng than, thế thôi. Đằng sau mỗi xe có một cái lò đốt dựng đứng, đôi khi phụ xe phải xuống gắn cái quạt quay tay vào quạt cho lò đỏ lửa.
 
Khi xe đến thì được nhìn đằng mũi xe, xe chạy qua thì xoay người nhìn theo đít xe, cho đến khi cái xe chỉ còn nhỏ như cái nắm tay thì quay về. Chỉ vậy thôi mà vui lắm, thỏa mãn lắm.
 
Con mắt của trẻ thơ nhìn kích thước cái xe cứ nhỏ dần rõ lắm, như quả bóng bay xì hơi tuột khỏi tay người, nó bay đi và nhỏ dần nhỏ dần. Sau này, khi đã về già, một hôm về làng, cũng vẫn trên con đường đó, tôi cũng thử đứng coi cái xe khách chạy qua, nhìn mãi mà cái xe vẫn cứ lù lù như nó đã từng là vậy, chẳng thấy nó thu nhỏ bao nhiêu. Thì ra con mắt trẻ thơ và con mắt người già, mặc dù nhìn cùng một sực việc nhưng khác nhau nhiều lắm. Cái này chắc phải nhờ các nhà tâm lý học hay sinh lý học giải thích giùm.
 
Thế rồi cách mạng Tháng Tám nổ ra, trai tráng trong làng tản đi tứ xứ, người đi làm cán bộ cách mạng, người đi bộ đội trực tiếp đánh Tây. Làng vẫn thế mà bây giờ như rộng ra. Trong làng cũng có một số nhà giàu nhưng hào hứng với cách mạng lắm, họ cho con cháu tham gia vào các đoàn thể. Người thoát ly gia đình, người ở lại thì cột túm ống quần lại để những đêm trăng đi tập quân sự theo nhịp một…hai, một… hai.
 
Trong tuần lễ vàng, người ta cứ vô tư tháo nhẫn, tháo vòng vàng ra bỏ vào cái hòm gỗ đặt ở đình, chẳng cần giấy biên nhận. Bởi những lời kêu gọi,
 
“Vàng là vũ khi tối tân
Vàng chống đế quốc, vàng ngăn quân thù”
 
Người ta bảo nhau như vậy. Vì sống trong tám mươi năm nô lệ, lòng dân muốn được có sự đổi thay nên chẳng còn tiếc gì mà không ủng hộ cách mạng. Qua tuần lễ vàng, có tài liệu nói chính phủ cách mạng đã thu được 60 triệu đồng Đông dương và 370 kí-lô vàng. Chưa hết đâu, mỗi khi giặc Pháp tấn công, dân ta thực hiện “tiêu thổ kháng chiến”, nghĩa là đốt bỏ nhà, thực hiện “vườn không, nhà trống” để giặc không còn gì mà cướp phá.
 
Khi kinh tế của đất nước phát triển, nhất là sau đổi mới, lớp lớp thanh niên kéo nhau ra thành thị. Nhiều làng chỉ còn lại ông già bà cả và trẻ em. Làng thì trống rỗng, thành phố thì phình ra. Nhà thấp tầng không đủ chứa, phải xây nhà cao tầng. Đường nhỏ phải xây thành đường lớn, đường dưới thấp không chứa nổi xe cộ phải làm thêm đường trên cao.
 
Cuộc sống thành thị trở nên xô bồ, tệ nạn cũng nhiều lên từ đó. Chẳng làm sao được, không lẽ lại trở về cuộc sống làng xã với con trâu đi trước cái cày theo sau như ngày xưa?
(Còn tiếp)
 
Hình trong bài: Đám cưới ở nhà quê.
Ngày 22/10/2020
Ph. T. Kh.

Add a Comment

Your email address will not be published.