Asconopsis Irene Dobkin

 

Bìa Lan châu á

Phần 4 – CÁC LOÀI LAN ĐA THÂN

Người đi tiên phong trong việc mô tả và phân loại lan là Carl Linnaeus ở Uppsala, ông ấy đã tạo thành nhóm đồng thời chia chúng ra trên cơ sở những đặc điểm về sinh lý. Linnaeus đã vận dụng thuyết nhị nguyên để mô tả về cây lan, mỗi tên của cây lan được tạo thành bởi

1) Tên của giống và

2) Tên của loài, tên họ đặt trước, tiếp đến là tên nhân vật có liên quan

Thí dụ,Vanda (giống) hookerana (loài). Trong tác phẩm của ông ấy có tên là Species Plantarum, được ấn hành năm 1743, Linnaeus đã mô tả 60 loài của lan tạo thành 8 nhóm. Ngày nay, có tới 17.000 loài và 750 giống trong hồ sơ về thảo mộc ở Kew Gardens, England.

Tiếp đến E. Pfitzer đã chia dòng họ nhà lan thành hai họ phụ hay phân – họ (sub-family) dựa theo số lượng bao phấn: họ MONANDRAE thì hoa của chúng chỉ có một bao phấn, trong khi đó họ PLEONANDRAE thì chúng có từ 2 đến 3 bao phấn. Sau đó thì họ phụ (sub-family) lại phân chia thành tông (tribes), giống (genera), nhánh (section), loài (species), và cuối cùng là biến loài (variety) và dòng vô tính (clone). Trải qua nhiều năm, sự phân chia khác nhau đã được đề nghị thành nhiều phân họ bằng cách tập hợp lại với nhau những tông có cùng nguồn cội. Song dù sao, cộng đồng những nhà bác học về cây trồng đã không tán thành bất cứ điều gì trong bản đề nghị này.

Trong khi những nhà phân loại học với kiến thức bao la có thể không đồng ý, trong sự chú tâm của chúng vào cuộc khảo sát hiện thời đối với Orchidaceae, trong đó 5 phân họ được Federick Gustav Brieger đề nghị trong Hội nghị Hoa lan Thế giới lần thứ Tám ở Frankfurt (1975) là phù hợp với những vấn đề nêu trong cuốn sách này. Năm họ phụ bao gồm Cypripedioideae, Neottioideae, Orchidioideae, Epidendroideae và Vandoideae, ba họ đầu hình thái phát triển nguyên thủy trong khi những phân họ như EpidedroideaeVandoideae thì hình thái có quan hệ với nhau nhiều.

Phân họ Cypripedioideae đồng nghĩa với phân họ Pleomandrae và chúng còn có cà tông Cypripedium và những thành viên của Cypripedium có môi giống hình cái túi với hai bầu nhụy (và từ đó, các giống lan hài cũng thuộc về tông này), rồi tông Apostasia mà hoa của chúng có hai bầu nhụy (Apostasia) hoặc ba bầu nhụy (Newviedia), song nó lại không có môi giống cái túi (mũi hài). Quê hương của tông Apostasia là ở vùng Indo- Malaysia, nhưng không phải là loài thường thấy, vì vậy chúng không được mô tả ở đây.

Trong số các giống lan có một bao phấn monandrous, phân họ Orchidioideae là nổi bật bởi chúng có một bao phấn, phần chân của bao phấn lại tiếp xúc với một chi tiết giống cái mỏ và bao phấn đó không bị rơi ra khi khối phấn bị lấy ra. Họ Orchidioideae là một họ lan lớn mà hầu hết dòng địa lan của Âu châu và châu Phi đều thuộc về nó. Nhiều giống lan có giả hành ở dưới mặt đất do vậy chúng có thể sống sót vào mùa đông. Họ Orchidioideae đại diện ở đông nam châu Á thì chỉ có một tông, Habenaria, tông này không được trồng rộng rãi.

Đối với ba họ phụ khác (Neottioideae, Epidendroideae và Vandoideae) thì nắp phấn sẽ rơi xuống khi phấn hoa bị lấy đi bởi phần đỉnh của nắp phấn dinh liền vào cái mỏ tạo thành một chi tiết gồm nhiều bộ phận được gọi nhóm lan là ACROTONAE. Nhóm Acrotonae bao gồm nhiều giống lan nhiệt đới. Còn Neottioideae là một nhóm gồm các loài cổ xưa, lan đa thân, địa lan và các loài lan thuộc dòng thảo mộc, đặc tính chung của nhóm này là phấn hoa trông như hạt. Chúng không có ống chứa phấn. Những giống lan thuộc hệ hoại sinh như lan Jewel, và những giống lan núi không bình thường như Corybas cũng thuộc hệ này.

Các họ phụ Epidendroideae và Vandoideae nhụy của chúng có chất dính và chúng được trồng nhiều ở dưới ánh mặt trời nhiệt đới. Epidendroideae là lan đa thân trong khi đó Vandoideae lại là lan đơn thân. Trong phạm vi họ Epidendroideae có các tông như: Phaius, Nephelaphyllum, Eulophia, Arundina, Bromheadia, Liparis, Dendrobium, Bulbophyllum, Coelogyne, Cattleya, Odontoglossum, Acriopsis và Cymbidium cùng một số tông khác. Trong cuốn sách này, tông Vanda Arachnis được dùng để phối với họ phụ Vandoideae.

CÁCH ĐẶT TÊN CÁC LOÀI LAN

Căn cứ vào khuyến nghị của Ủy ban quốc tế về quy ước đặt tên cho lan (International Committee on Orchid Nomenclature), các loài lan trong thiên nhiên khi viết phải viết chữ nghiêng (italics), trong khi đó tên những loài lan do con người lai tạo thì viết như bình thường. Những tên thể hiện sự quý hiếm mà nó xuất hiện trong tự nhiên thì cũng phải viết nghiêng, như chữ alba (trắng), archracea (vàng), rubra (đỏ); những biến loài có tính cá nhân hoặc vô tính mà được giải thưởng thì viết chữ thường, thí dụ ‘Sagarik strain’.

Ngoài ra, tất cả các tên chỉ giống thì bao giờ cũng phải viết chữ nghiêng, dù cho chúng xuất xứ trong tự nhiên hay nhân tạo.

Kỳ sau: HỌ PHỤ (SUBFAMILY) CYPRIPEDIODEAE

Add a Comment

Your email address will not be published.