10 giống chó đẹp nhất

10 giống chó đẹp nhất

1# CHOW CHOW

Chó Chow Chow hay còn gọi là Đường khuyển hay chó của Đại Đường là một giống chó có nguồn gốc từ Trung Quốc. Tên tiếng Trung của giống chó này là 鬆獅犬 (Hán Việt: Tông sư khuyển) có nghĩa là chó sư tử xù. Ngoài ra chúng còn có tên Wonk, Lang cẩu (chó sói), chó gấu,vv Chow Chow là tên phát âm tiếng Hán của người Anh và có nghĩa là giống chó hiếm từ vùng viễn đông. Hộp sọ rộng và thân hình tròn trịa, lông dày và đuôi xù lông là đặc trưng của giống chó này. Nó còn là một con chó nguy hiểm bởi chúng có thể tấn công nạn nhân với những vết cắn chết người. Nó không hề thân thiện, luôn có ý thức bảo vệ chủ nhân và tài sản của họ. Loài chó này nổi tiếng với trí thông minh và khí chất quý tộc. Chow Chow đã được nhiều vị thủ tướng, tổng thống nuôi nấng, trong đó có Tổng thống Mỹ Calvin Coolidge. Chúng có giá khá đặt, giá của loài chó Chow Chow với bộ lông dày dao động từ 1.000 đến 8.000 USD. Chúng thường có bộ lông lớn và lưỡi của chúng thường có màu xanh hoặc màu đen.

Trong lịch sử, chúng đã được sử dụng trong các việc như săn bắn, kéo xe và canh gác. Chúng còn được dùng để săn sói, chồn, gà lôi. Chow Chow Từ bao đời nay giống chó Tây Tạng này luôn được coi là chó làm việc, chó canh gác và không được hưởng cuộc sống xa hoa như một vài giống chó khác. Chúng được coi là giống chó bình dân, có họ hàng với giống Laika và được dùng để trông nhà, kéo xe trượt tuyết và săn bắn. Bộ lông dày của Chow chow được sử dụng làm áo lông, ngoài ra thịt của chúng còn là một món đặc sản tại Trung Quốc.

Chow chow có ngoại hình rất giống với hình mẫu chó đá hoá thạch từ hàng triệu năm trước. Được biết đến khoảng 2.000 năm trước tại Trung quốc. Lần đầu tiên được đưa vào nước Anh năm 1800, tên gọi Chow chow xuất phát từ việc người Anh gọi tất cả các súc vật lạ được đưa vào từ miền viễn Đông. Năm 1880 lần đầu tiên một số cá thể dòng lông ngắn của giống Chow Chow, còn có tên chó Katon, được đưa về Anh quốc. Thông qua các cuộc lai tạo được lựa chọn nghiêm ngặt với các giống chó lông dài bản địa, chúng đã trở thành giống chó thượng lưu. Chow Chow là chó cưng của nữ hoàng Victoria và các sau này là nữ hoàng Elisabeth.

Chow Chow thuộc giống chó có nguồn gốc cổ xưa. Đặc biệt là chúng có dáng của loài gấu nhỏ vùng Tây Tạng và Mãn Châu Lý do có cái lưỡi có nhiễm sắc thể xanh (huyền đề), cái đầu bành to, các cặp chân ngắn và thân hình có kích thước hình vuông (kích thước chiều dài và chiều cao tới vai bằng nhau, giống như các dòng Spitz Đức. Giống chó đòi hỏi sự quan tâm sâu sắc từ người chủ của chúng nếu họ không muốn chúng trở nên hung hăng và mất kiểm soát. Chúng cảnh giác cao độ với người lạ và quyết liệt bảo vệ chủ nhân khi cần thiết và có thể trở nên nguy hiểm.

Chow chow cao từ 18-22 inches (45–56 cm). Cân nặng 45-70 pounds(20–32 kg). Hai đặc điểm đầu tiên để nhận dạng giống chó này là lưỡi có màu xanh đen và bốn chân thẳng, to trông hơi thô làm cho chúng có dáng đi cứng nhắc, trông không được tự nhiên. Tai của chúng tròn và nhỏ. Đầu chó Chow chow to, rộng, trán phẳng, mõm khá to và hợp với mũi thành một khối lồi ra phía trước.Ngực chúng rộng khoẻ mạnh, phần thân sau ngắn gọn gàng. Đuôi xù lông và luôn buông thõng. Loài chó này có thể sống được 15 năm. Đây là một giống chó rất khỏe mạnh. Có khả năng mắc chứng loạn sản. Ngoài ra còn hay mắc bệnh quặm mắt. Chúng phải ăn hai bữa một ngày.

Bộ lông dày và rậm có hai loại khác nhau mượt và thô cứng. Màu phổ biến nhất của giống chó Chow chow này là màu nâu đỏ, đen, lam đen, màu kem, cũng có thể bắt gặp màu xám. Màu trắng được coi là khá hiếm. Đặc biệt chó Chow chow thuần chủng không có bộ lông loang lổ pha lẫn các màu với nhau. Đặc điểm khác của giống chó này là có bờm lớn rất ấn tượng và làm cho chúng có nét giống như loài sư tử. Cần chải lông thường xuyên bằng bàn chải chuyên dụng vì Chow chow có mức độ rụng lông khá nhiều. Loài Chow chow lông ngắn thường hiếu động và dễ dạy bảo hơn loài lông dài.

Chow chow thông thường rất biết điều và ngoan ngoãn, tuy vậy có thể trở nên bướng bỉnh khó bảo. Đây là loài chó chỉ biết công nhận duy nhất chủ nhân của mình, chúng rất trung thành với gia chủ. Nếu bị người lạ tấn công, Chow chow sẽ phản ứng tức thì với tất cả sự hung dữ của chúng. Giống chó rất cá tính này sẽ thích hợp nhất đối với những người chủ mạnh mẽ. Chow chow sẽ phát triển tốt nhất. Không nên trông đợi vào sự tuân lệnh một cách tuyệt đối của chúng, vì loài chó này có tính bướng bỉnh bẩm sinh và thích hành động theo cách của chúng. Dù là loài chó thông minh, có thể dễ dàng tiếp thu các bài học, tuy nhiên, cần phải kiên nhẫn khi dạy bảo chúng.

Nói chung Chow chow hay lấn át và bắt nạt các loài chó khác, tuy vậy chúng lại luôn tỏ ra rất dịu dàng và ngoan ngoãn khi chơi với trẻ nhỏ. Nên cho Chow chow hoà nhập từ lúc còn nhỏ với các vật nuôi khác.Việc dạy dỗ cần được tiến hành ngay từ lúc chúng còn nhỏ. Có thể sống trong điều kiện căn hộ. Tuy vậy, chúng tỏ ra khá thụ động trong không gian hẹp và thoải mái nhất khi ở không gian rộng như là sân vườn. Nhạy cảm với thời tiết nóng quá, tuy vậy có thể sống ở ngoài sân. Chúng tương đối lười biếng nên cho chúng tập các bài thể dục để trở nên thon thả và nhanh nhẹn hơn. (Nguồn: Wiki)

2# MINIATURE SCHNAUZER

Miniature Schnauzer là giống chó cảnh và chó sục có nguồn gốc từ Đức, tên Schnauzer có nghĩa là cái rọ mõm, bắt nguồn từ việc lông mặt của chó rất dài, và bọc quanh mõm chó giống như cái rọ. Đây cũng là nét đặc trưng của chó Schnauzer. Giống Standard Schnauzer xuất hiện từ thế kỷ thứ 17, và chúng được dùng để chăn gia súc lớn. Chúng có thể dùng để săn chuột. Chúng hữu dụng là chó kiểng bầu bạn với người ưa làm việc đi săn. Bản tính sống động vui vẻ cảnh giác với người lạ. Tại các trang trại, những con chó thuộc giống này thường có nhiệm vụ bảo vệ, canh gác hay hỗ trợ chủ nuôi khi vận chuyển đàn gia súc, có những con chó có thể làm những công việc có độ khó cao giúp chủ.

Chúng được phân loại là chó cỡ nhỏ và tiêu chuẩn, với kích thước là chiều cao từ 35,5–48 cm, trọng lượng 5,9- 6,8 và có thể đến 15 kg. Đây là một giống chó khoẻ mạnh, lông thô, cứng, lông mặt dài và lông mày rậm. Lông của chúng đen tuyền hoặc muối tiêu, mặt pha trộn giữa các màu xám, đen và trắng. Dù nhỏ con, chúng đủ dẻo dai để chơi những trò tốn sức và đủ vững chãi để làm bạn tốt với người già.

Có ba loại chó Schnauzer khác nhau đã được phân định, và chúng đều có chung một dòng giống tổ tiên. Loại Schnauzer khổng lồ, từ chân đến vai đo được 63,5 cm, hai loại sau thì nhỏ hơn nhiều, chiều cao trung bình của chúng là 33,5 cm và 48 cm. Lần đầu tiên, chúng xuất hiện ở những hội chợ triển lãm chó vào cuối năm 1800, dưới cái tên Wirehavied Pinscher, sau này chúng mới được xác nhận rõ ràng là chó Schnauzer tiêu chuẩn. Giống tiểu Schnauzer là kết quả lai tạo giữa những con Standard Schnauzer nhỏ bé nhất, được chọn lựa từ các bầy chó với giống Pinscher.

Giống chó này phải được cắt tỉa lông thường xuyên, lông mặt, lông mày phải được giữ sạch sẽ để khỏi hôi hám. Lông và cẳng phải được chải mỗi ngày. Bộng lông của chúng cần chải gỡ kỹ càng mỗi ngày. Phải rửa ráy bộ lông mõm cho chúng, vì nó dễ bị dơ khi thức ăn bám vào. Muốn tránh tình trạng này, nên cho chó ăn thức ăn khô, hoặc hơi ướt một tí, đừng cho ăn lỏng. Đều đặn vài tháng một lần, nên xén tỉa bộ lông cho chó, để giữ nó ở trong trạng thái tốt. Nên đem chó đến các thẩm mỹ viện dành cho chó.

Các giống chó Schnauzer đều tỏ ra năng động, thích chơi đùa. chúng rất thân thiện với mọi người trong gia đình, đặc biệt rất cảnh giác với người lạ. nó giữ nhà rất giỏi, phát hiện và báo động kẻ lạ xâm nhập vào nhà nhanh và chính xác. Giống chó này bé và khi phối giống chó Pug sẽ cho ra những chú chó rất thích sống ngoài trời. Tuy nhiên nó cũng bằng lòng với cuộc sống trong nhà ở thành thị. Là giống chó thông minh và lanh lẹ, là bạn trung thành và là thú cưng cho gia đình. (Nguồn: Wiki)

3# ICELANDIC SHEEPDOG

Giống chó Icelandic Sheepdog – Chó chăn cừu Iceland hay còn có những tên gọi khác là Iceland Sheepdog, Islandsk Farehond và Icelandic Dog, loài chó này thuộc dòng chó săn và bảo vệ các đàn gia súc, chúng có kích thước trung bình và bản tính nhẹ nhàng nhưng cũng rất lanh lợi và luôn tràn đầy năng lượng, loài này là một người bạn đồng hành phù hợp với những ai yêu thích sự năng động và nhiệt huyết. Tìm hiểu thông tin chi tiết về giống chó chăn cừu Iceland

Giống chó Icelandic Sheepdog – Chó chăn cừu Iceland là một trong những giống chó lâu đời nhất có nguồn gốc từ vùng Iceland, vào những năm 874 – 930 trước Công Nguyên, những kẻ cướp biển Viking đã mang chúng đến với vùng này, loài chó này còn được gọi là Iceland Spitz hoặc Iceland Dog. Dòng chó này có chung nguồn gốc tổ tiên với giống chó cổ Cardigan Welsh Corgi và chó chăn cừu Shetland, trong nhiều thế kỷ loài chó Icelandic Sheepdog được sử dụng để bảo vệ đàn gia cầm và săn bắt các loài chim, lửng.

Giống chó này cho đến ngày nay vẫn được sử dụng rộng rãi để bảo vệ cách vùng trang trại và trở thành loài vật nuôi trong gia đình. Loài chó này chính thức được Hiệp hội chó giống Mỹ công nhận vào năm 2010.

Giống chó Icelandic Sheepdog có một thân hình tương đối nhỏ nhưng đầy đặn với kích thước chiều cao từ 31 – 41 cm và cân nặng từ 9 – 14 kg. Giống chó này có bộ ngực rộng, những cặp chân ngắn, cặp chân sau có cơ bắp chắc khỏe, phần cơ thể khá dài hơn so với chiều cao của chân. Loài chó này có đầu thủ rộng, mõm nhỏ gọn, đôi tai hình tam giác khá nhỏ và dựng đứng cao trên đầu, chúng có chiếc đuôi dài phủ rậm lông dài và thường cuộn tròn trên lưng.

Loài chó chăn cừu Iceland có một bộ lông ngắn, dày rậm, mềm mại và không thấm nước. Phần lông dài hơn ở các vùng cổ, ngực và sau bắp đùi, bộ lông của giống chó này thường có màu kem hoặc màu trắng kết hợp với một màu khác như nâu vàng, nâu đỏ, xám hoặc đen.

Loài chó chăn cừu Iceland là một giống chó có tính tình lanh lợi và tràn đầy năng lượng, chúng rất nhanh nhẹn và hiếu động, loài chó này cũng rất tình cảm, chúng thân thiện với tất cả mọi người, trẻ em và cả những loài vật khác.

Bản tính thân thiện và hiếu động nhưng chúng rất trung thành và cảnh giác, chúng sẽ luôn quấn quýt bên chủ nhân và nghe theo mọi mệnh lệnh của chủ. Loài chó này có thể đồng hành tốt trong các cuộc săn bắn, vui chơi và là một tay canh gác rất giỏi. (Nguồn: Hội nuôi trồng)

4# BERNESE MOUNTAIN DOG

Chó núi Bernese hay ở Thụy Sĩ và Đức còn gọi là Sennenhund Berner là một giống chó lớn, một trong bốn giống chó Sennenhund có nguồn gốc từ từ dãy Alps Thụy Sĩ. Các Sennenhund tên bắt nguồn từ Đức “Senne” (núi cao đồng cỏ) và “Hund” (chó săn). Berner hoặc Bernese bằng tiếng Anh được nuôi như loại chó trang trại (bảo vệ và kéo xe).

Những con chó núi Bernese là hậu duệ của chó sói được thuần hóa để nuôi trong các trang trại ngày xưa với mục đích bảo vệ và kéo xe. Các loại ban đầu được gọi là Godly, được lại tạo ở một thị trấn nhỏ tên là Dürrbach, nơi những loại chó lớn thường được nuôi thường xuyên. Ở Harrisburg, người ta sử dụng những con chó như là công cụ chiến tranh.

Trong đầu thập niên 1900, trong cuộc trưng bày về những con chó lớn đã thấy giống Berne xuất hiện, và vào năm 1907 một vài nhà lai tạo từ khu vực Burgdorf thành lập câu lạc bộ giống đầu tiên, đã xác định tiêu chuẩn cho Bernese thành một giống chó riêng biệt. Đến năm 1910, đã có 107 thành viên đã đăng ký của giống này.

Cũng giống như các Sennenhunds khác, Bernese Mountain Dog là một con chó nặng, lớn. Chúng thuộc nhóm chó có kích thước lớn, chiều cao con đực đạt từ 61–71 cm, con cái có kích thước từ 58–69 cm, con đực cân nặng từ 39–50 kg, con cái cân nặng từ 36–48 kg. Đầu nhỏ, mõm hình chữ V, tai rũ. Tuổi đời chúng khoảng 8 – 10 năm. Chúng chậm trưởng thành, và trưởng thành hoàn toàn phải ở vào lúc 2,5 tuổi. Bernese là loài chó thích vận động, chúng rất hiếu động và thường chạy rất nhanh.

Bộ lông chúng có màu đặc biệt, toàn thân màu đen, ngực và mũi trắng, phía trước bốn chân, hai bên miệng và hai bên mắt màu nâu vàng, một vẻ đẹp khi nhìn từ phía trước. Lông của Bernese là hơi thô, kết cấu đơn giản lớp lông lót khá dày đặc, khả năng chịu thời tiết. Nên chải mỗi tuần một hoặc hai lần là đủ, nên dùng lượt kéo khi chảy.

Các tính khí Bernese là một điểm mạnh mẽ của giống chó này, chúng rất tình cảm, trung thành, ổn định, thông minh, nhưng đôi khi nhút nhát. Đa số các Bernese thân thiện với mọi người, và con chó khác. Chúng cũng có được thân thiện với các vật nuôi khác như mèo, ngựa, vv. Bernese là loại chó dễ đào tạo, luôn muốn làm vui lòng chủ sở hữu, rất thích được khen ngợi và thương yêu. Bernese là chú chó quen sống ngoài trời hơn là trong nhà. Tuy nhiên, nó rất muốn sống trong nhà đẻ ở gần với chủ.

Khác với các giống chó săn, BM khi ở trong nhà rất yên lặng và không nghịch ngợm. BM không đòi hỏi cần nhiều tập luyện và hoạt động nên sẽ dễ dàng hơn rất nhiều cho chủ. Vời tính khí bình tĩnh Bernese rất thích hợp cho việc xe kéo nhỏ hoặc toa xe, một nhiệm vụ mà ban đầu chúng được thực hiện ở Thụy Sĩ. Nếu được đào tạo thích hợp chúng có thể kéo xe cho trẻ em hoặc giỏ hàng nội trợ.

5# ALASKAN MALAMUTE

Chó Alaska hay Alaska Malamute hay Mahlemuts là một giống chó kéo xe ở Alaska. Giống chó sói được đặt tên theo bộ tộc Mahlemut là Malamute. Người Eskimo du mục ở Alaska đã khám phá ra chúng có khả năng di chuyển và kéo xe trên tuyết một khoảng cách rất lớn và liên tục. Họ đã cho lai tạo với những giống khác như chó Newfoundland hoặc St Bernard để có được giống chó ngày càng to hơn, khỏe hơn, bền bỉ hơn, và chịu được thời tiết khắc nghiệt của vùng Bắc Cực. Người Nga đã dùng những chú chó này đê chở lông thú và thịt thú rừng tới những khu vực lân cận để bán và đổi các mặt hàng khác. Giống chó này đòi hỏi được tập luyện hàng ngày nếu không chúng sẽ buồn chán và phá hoại.

Chúng được những người dân sống tại sống tại vịnh Kotzebue, Vùng đất Alaska nuôi dưỡng và huấn luyện chuyên dùng để làm việc trong thời tiết khắc nghiệt và hết sức lạnh giá của vùng đất Bắc Cực. Khi những người Nga khám phá ra vùng đất bắc cực lạnh giá này thì họ cũng có nhắc đến giống Chó với những đặc điểm mà giống với những gì mà giống Chó alaska đang có. Sau này vùng đất Alaska trở thành 1 bang của Mỹ thì ngẫu nhiên, giống Chó này trở thành một giống Chó của Mỹ. Và chính vì thế, đến năn 1935 American Kennel Club đã công nhận điều ấy.

Những người dân du mục khá tự hào về giống chó của họ vì chúng luôn hoàn thành tốt quãng đường phải vượt qua. Malamute đã được phát triển ở Alaska từ lâu đời, trước khi Alaska trở thành một bang của Mỹ và ngẫu nhiên thì nó trở thành giống chó Mỹ. Việc nghiên cứu và phát triển giống chó này không rầm rộ hay nổi bật như các giống chó khác. Khi những người Nga khám phá ra vùng băng tuyết này thì họ cũng nói đến giống chó Malamute này.

Malamute chủ yếu được nuôi ở gần vùng Bắc cực băng giá và những khu vực thường có tuyết quanh năm. Tuy nhiên ở một số nơi khác thì chúng được nuôi như vật cảnh trong gia đình. Việc đi lại trên tuyết với những khoảng cách khá xa thì khó có thể thay thế được chó Malamute. Manamute vẫn được lai tạo để phục vụ cho mục đích kéo xe. Với đàn chó kéo khá đông một sức khỏe vượt nhiều con đường tuyết phủ trắng và sự nhiệt tình hết mình chuyến đi sự chịu đựng thời tiết khắc nghiệt. Chúng thay cho bất kì loại hình phương tiện di chuyển nào trên vùng phương Bắc này.

Hàng năm tại Canada, Mỹ và một số nước khác có tổ chức những cuộc đua mang tính chất thể thao được diễn ra nhằm đáp phát triển giống chó chuyên kéo xe tuyết này. Đôi khi tại một số thành phố hay nông trại thì người nuôi cũng có mục đích tương tự nhưng những con Malamute này lại kéo xe có bánh tròn để thồ nông sản và 1 số vật dụng khác thay cho ngựa. Với những đàn chó kéo trên 15 con với quãng đường rất dài thì yêu cầu người nuôi và điều khiển có sự tuyển chọn kĩ càng cho những chuyến đi.

Alaskan Malamute có chiều cao trung bình là 63,5 cm và có thể cao đến 68,5 cm và có sự cân đối về chiều cao, cân nặng, cấu trúc xương và cơ bắp. Xương chân lớn rất cơ bắp để phục vụ cho việc kéo xe. Với hình dáng ngoài không được quý phái, duyên dáng hay có dáng thể thao như một số giống khác mà nó có nét tương đồng với loài sói Bắc Mỹ. Cặp mắt màu nâu, nâu đen hình quả hạnh, tai nhỏ đầy lông tơ. Alaskan Malamute đẹp nhất là nhờ bộ lông dày mượt, đặc biệt cái đuôi hình bông lau xõa đều cong ngược trên lưng. Bộ lông dày thô, mềm, bóng và có sắc biến thiên dần từ màu trắng toát ở phần bụng tới màu đen lên đến trên sống lưng và có khuôn mặt rất đẹp với những mảng trắng. Đuôi luôn cuộn phía trên lưng. Giống chó Alaskan Malamute có hai lớp lông ngăn không cho cái lạnh buốt giá ngấm vào cơ thể. Lớp lông dài phía ngoài không thấm nước, lớp lông trong ngắn hơn nhưng rất dày lớp lông trong ngắn và cấu trúc như những sợi lông cừu. Do vậy mà việc chăm sóc lông phải yêu cầu rất nhiều thời gian và chu đáo. Nếu nuôi tại các gia đình thì phải chải lông thường xuyên để tránh lông rụng bám vào thảm hay chăn đệm.

Chó alaska là một trong những giống Chó lao động mà chủ yếu là dùng để kéo xe, chính vì thế chúng sở hữu một bộ khung cao to, chắc chắn rất khỏe mạnh và đặcbiệt là xương chân và các khớp xương chân tương đối phát triển. Loại Chó này rất đa dạng về màu lông, nhưng điển hình là màu xám trắng, xám lông chồn kết hợp với trắng, đen trắng hoặc có thể trắng toàn thân. Dù Chó alaska có màu lông như thế nào đi chăng nữa thì 2 yếu tố màu lông không thể thay đổi đó là mõm và 4 chân phải là màu trắng. Bộ lông của chúng được phân ra thành 2 lớp. Lớp lông dài bên ngoài đặc biệt không thấm nước; lớp lông trong ngắn hơn nhưng rất dày, có cấu trúc như lông cừu. Chó đẹp nhất là nhờ vào bộ lông của chúng, một bộ lông dày, mượt, khỏe, và có cái đuôi cong dài những sợi lông dài, xõa đều trên lưng. Chúng sở hữu đôi mắt có vị trí xiên chéo trên hộp sọ, hình hạt hạnh nhân, màu hạt dẻ và kích cỡ trung bình. Trong khi di chuyển, chúng luôn đứng thẳng, ngẩng cao đầu, 2 mắt mở to và luôn luôn quan sát do Chó alaska rất tò mò, rất nhanh nhẹn hoạt bát, luôn luôn quan sát tìm hiểu mọi sự vật hiện tượng xung quanh.

Chúng thông minh, hiền hòa, luôn biết nghe lời dù là chó cái hay đực và luôn nổi bật trong công việc. Thích trẻ nhỏ và luôn hòa thuận với nhũng vật nuôi khác. Tuy nhiên thường thì Malamute không có thói quen nhặt bóng hay tha đồ vật như một số giống chó săn khác vì mục đích nuôi từ cổ xưa của người Eskimo không vì mục đích săn bắn mà chỉ để kéo xe nên bản tính săn mồi trong nó rất ít. Đặc biệt là không bao giờ tấn công mèo, điều rất khác với đa số các con chó khác. Alaskan Malamute là giống chó thông minh nên có khả năng học tập rất nhanh và rất biết vâng lời. Bản chất rất tò mò và vô cùng hiếu động nên Malamute rất thích được lao động. Alaskan Malamute có thể tự đi rất xa mà vẫn tìm được đường về. Do tập tục sống bầy đàn nên khi nuôi trong gia đình thì chúng rất nghe lời chủ bởi coi chủ như con đầu đàn, luôn phục tùng và có khuynh hướng luôn sẵn sàng bảo vệ đàn của mình khi có kẻ muốn tấn công hay xâm phạm. Malamute có khả năng học và dễ tuân lệnh. Chúng rất thích thú khi được kéo vật gì đó trên những đoạn đường dài cùng bầy đàn của nó. Việc di chuyển trên tuyết trong không gian rộng lớn thì rất tốt.

Chúng thích chạy nhảy ở những nơi rộng rãi thoáng mát và một điều khá hay đó là giống Chó alaska này không có thói quen tha đồ hay nhặt bóng như những giống Chó săn khác vì vốn dĩ ngay từ thời xa xưa, những người dân vùng Bắc Cực nuôi dưỡng và huấn luyện chúng chỉ để lao động mà điển hình là dùng để kéo xe chứ không dùng chúng vào mục đích săn môi như các loại khác. Bản năng kéo xe và di chuyển trên những quãng đường dài dường như nó đã ngấm vào máu của dòng Chó này. Chó alaska là một trong những giống Chó thông minh nhất thế giới. Chúng có bề ngoài hình giáng giống như một con Chó sói hung giữ và khó gần tuy nhiên trái với những gì so với vẻ bề ngoài của nó thì Chó alaska rất hiền lành, gần gũi rất tinh nghịch nhưng lại biết nghe lời chủ. Chúng sống với chủ nhân của chúng rất hiền hòa, và rất tình cảm. Chó Alaska này đó là chúng đặc biệt rất quý trẻ em

Có một sự kiện diễn ra liên quan đến loài chó này, đó là vụ việc bé gái 6 ngày tuổi được cho là bị chó Alaskan Malamute ăn mất đầu. Bà mẹ đã khi phát hiện con gái 6 ngày tuổi có tên Eliza-Mae Martha Mullane tử vong bên cạnh con chó giống Alaskan Malamut có tên Nisha của gia đình. Người mẹ 3 con hoảng hốt nói với người hàng xóm rằng Cháu không biết làm gì nữa. Con chó ăn mất đầu con bé rồi. Cô ấy liên tục hét lên Con chó đã ăn mất đầu con bé. Người chồng đã mua con chó giống Alaskan Malamut ở bên ngoài 1 quán rượu rồi đem con chó đó về vì ai đó nói rằng họ sẽ bỏ con chó đó đi. Con chó Nisha được khoảng 5, 6 tuổi nhưng trông nó già hơn tuổi, trước đó, nó đã bị bạc đãi. (Nguồn: Wiki)

6# AKITA INU

Akita Inu hay chó Akita hay Akita Nhật là một giống chó quý có nguồn gốc từ Nhật Bản. Chúng được coi là giống chó chính thức và là Quốc khuyển của Nhật Bản vì những đặc tính ưu điểm của mình. Akita có hai loại chính, chủng Nhật Bản và Mỹ, Akita Nhật có thể màu trắng, nâu đốm, nâu vàng hoặc đỏ trong khi Akita Mỹ thì rất phong phú. Akita Nhật thường sống ở vùng đồi núi ở Nhật Bản. Chó Akita to, khỏe và rất nổi bật và khá ương ngạnh. Chúng mạnh mẽ, độc lập và tính thống trị, chúng rất vui vẻ hòa đồng với các thành viên trong gia đình nhưng tránh xa người lạ do sự phân chia lãnh thổ do dó có thể trở nên nguy hiểm

Chúng thường tỏ ra hung hăng với những con chó khác nếu không được bảo ban, dạy dỗ chu đáo. Chúng còn được biết đến là được biết đến là giống chó ngoan ngoãn, dễ bảo, nhưng đôi khi cũng tỏ ra cứng đầu. Rất tận tuỵ và yêu quý gia chủ, chúng thông minh, can đảm và rất thận trọng, không thân thiện với người lạ nhưng bản tính của Akita là trung thành và rất có tình nghĩa với chủ nhân. Giá thành của chúng đắt với 3.500 USD cho mỗi con. Trong văn hóa đại chúng, giống chó này được biết đến thông qua chú chó Hachikō, chú chó lông xù Wasao và những chú chó trong bộ truyện tranh Chú chó có nghĩa (tiếng Nhật: Ginga: Nagareboshi Gin)

Akita Inu có nguồn gốc từ đảo Honshu vùng Akita, Nhật Bản. Những di chỉ đầu tiên về sự tồn tại của giống chó Akita Inu được tìm thấy từ nhiều thế kỉ trước. Đây là giống chó cổ xưa nhất của Nhật Bản và gần như là của thế giới. Chúng ta bắt gặp hình ảnh của chúng trên các vách đá có niên đại hơn 2000 năm TCN. Giữa các thế kỉ XVI và XIX, dưới triều đại Edo, chó Akita là hình tượng quan trọng trong xã hội. Ngày nay, Chú chó Akita nổi tiếng đã được tạc tượng đồng đặt ở nhà ga Shibuya và tại Odatem, trung tâm lai tạo Akita, đã có cả một bảo tàng về giống chó này.

Từng có thời gian trong lịch sử Nhật, những chú chó được cung cấp các dịch vụ và có phòng riêng. Chỉ có các gia đình hoàng tộc hoặc giàu có mới sở hữu chúng. Hơn nữa, chúng còn được điều khiển bằng một thứ ngôn ngữ đặc biệt. Có thể nói Akita là chú chó quyền năng và thân thiện với những người chăm sóc chúng. Ở Nhật, tượng chó Akita thường được gửi tới cho những người bệnh để chúc cho họ chóng bình phục, hoặc bố mẹ trẻ mới sinh con để tượng trưng cho sức khỏe. Một câu thành ngữ cổ của dân Nhật liên quan đến giống chó này có nội dung đại thể là: “Nếu đã làm chó thì hãy làm chó của giới thượng lưu”

Giống chó được sử dụng vào nhiều mục đích, đầu tiên như là bảo vệ cho Nhật hoàng, sau đó như chó chiến đấu, chó săn gấu và lợn lòi, dùng trong quân đội, cảnh sát. Akita có bản năng của loại chó săn bắt và có thể phát huy ngay cả khi tuyết phủ dày. Vào đầu thế kỷ thứ 19 Akita được lai giống với chó Tosa và các dòng chó to con của châu Âu nhằm tạo ra giống chó hung dữ cho các cuộc khuyển đấu. Năm 1910, sau khi cấm chọi chó được 2 năm, Nhật Bản quyết định lại tạo ngược dòng để có trở lại giống Ikata nguyên bản. Đến năm 1970 hầu như quá trình tái lai tạo đã hoàn tất.

Con Akita đầu tiên được mang tới Mỹ bởi Helen Keller. Người Mỹ cũng mang Akita trở về sau Đại chiến thế giới lần thứ 2. Về sau, có sự lai tạo của giống chó này với molosos giống chó có đầu giống con dơi) và Akita trở thành một phần trong các cuộc đấu chó do sự dũng cảm huyền thoại của chúng. Một số người yêu thích giống chó này đã tìm kiếm và gây dựng lại giống và đã thu được các tiêu chuẩn. Từ năm 1931, chó Akita đã được tuyên bố là Di sản quốc gia tại Nhật Bản. Nhật cấm xuất khẩu chó Akita và Akita Inu được tuyên bố là báu vật quốc gia được bảo vệ nghiêm ngặt. Mãi đến năm 1950 quy chế cấm xuất khẩu giống chó này mới được sửa đổi.

Từ sau khi sự kiện của chú chó Hachiko, có công bố một bản điều tra số lượng còn lại của giống chó Akita tại Nhật Bản, theo đó chỉ còn lại 30 con thuộc giống Akita thuần chủng bao gồm cả Hachikō. Sau đó, anh vẫn tiếp tục đến thăm chú chó và tiếp tục công bố những bài viết về sự trung thành tuyệt đối của Hachikō. Đáng chú ý là vào năm 1932, một trong số những bài viết này đã được đăng tải trên tờ báo Asahi Shimbun – một tờ nhật báo nổi tiếng của Tokyo với số lượng độc giả rất lớn – đã khiến cho mọi người biết tới Hachikō. Lòng trung thành của chú đã gây ấn tượng cho tất cả mọi người, các giáo viên đã lấy Hachikō như một tấm gương sáng về lòng trung thành cho trẻ noi theo, các nghệ sĩ nổi tiếng đã bắt đầu tạc tượng, trên cả nước dấy lên phong trào phát triển giống chó Akita, và danh hiệu Chūken (忠犬 – chú chó trung thành) cũng ra đời.

Gần đây nhất, giống chó quý này cũng được Nhật Bản tặng cho Tổng thống Nga Vladimir Putin nhằm thúc đẩy quan hệ giữa 2 nước. Con chó 3 tháng tuổi, thuộc giống chó quý Akita Inu, tên gọi Yume, là một món quà từ tỉnh Akita, Nhật Bản gửi tặng nhà lãnh đạo Nga. Tỉnh Akita đã quyết định tặng con chó cho ông Putin vì nhà lãnh đạo Nga rất yêu mến loài động vật này, món quà nhằm bày tỏ lòng biết ơn đối với sự trợ giúp Nga sau thảm hoạ động đất và sóng thần và để chúc mừng ông Putin trở lại ghế tổng thống.

Chó Akita Inu có thân hình to lớn, thể trạng mạnh khỏe và cơ bắp. Phong thái thanh lịch của nó truyền tải tính cách và sự uy nghi của tầng lớp quý tộc. Hộp sọ tỷ lệ thuận với kích thước cơ thể. Trán rộng và cổ to và cơ bắp, không có diềm cổ. Đây là giống chó lớn nhất của Nhật Bản trong nhóm Spitz là tên của 1 nhóm gồm có khoảng 56 giống chó, chó trong nhóm này thường có lông dài, trắng hoặc một phần trắng, tai và mõm nhọn, phần đuôi thì hầu hết là cuộn trên lưng. Trong nhóm này thì có khoảng 25 giống trông rất giống nhau, mang hình dáng giống như Siberian Husky hoặc Alaskan Malamute và lớn nhất là giống Akita này.

Chó có ngoại hình cao lớn, con đực cao từ 26 – 28 inches (66 – 71 cm), chó cái cao từ 24 – 26 inches (61–66 cm), cân nặng từ 75 – 120 pounds (34 – 54 kg), chó cái cân nặng từ 75 – 110 pounds (34 – 50 kg). Chúng có thân hình chắc nịch, cân đối, gân guốc, mạnh mẽ và trông rất ấn tượng. Đầu to, trán phẳng và bộ hàm ngắn nhưng khoẻ. Răng sắc khoẻ, theo hình răng cưa, Chúng có mõm mềm nên có thể dễ dàng săn những loài chim nước. Mặt có hình tam giác theo kiểu chó sói. Giữa trán có một rãnh chia đôi mặt thành hai nửa bằng nhau.

Mắt nhỏ, hình tam giác có màu nâu sẫm. Mũi thông thường có màu đen (có thể có màu nâu trên các cá thể có màu lông trắng, nhưng màu đen được đánh giá cao hơn). Môi đen và lưỡi có màu hồng. Đuôi luôn vểnh cao và cuộn tròn ở trên lưng. Tai nhỏ, dày, hình tam giác, hơi tròn ở đỉnh tai. Tai dựng đứng và ngả về phía trước. Chân của chúng có màng, giống kiểu chân mèo, vì thế nên bơi rất giỏi. Bộ lông có 2 lớp bao gồm lớp lông cứng, không thấm nước ở phía ngoài và lớp lông dày mềm bên trong. Có các màu trắng tuyền, đỏ, màu hạt vừng và vằn vện. Màu đen không được chấp nhận. Chúng sống khoảng 10 – 12 năm và có thể mắc các bệnh về bệnh về máu, hệ miễn dịch, bệnh ngoài da, mắt.

Là giống chó ngoan ngoãn, dễ bảo, nhưng đôi khi cũng tỏ ra cứng đầu. Rất tận tuỵ và yêu quý gia chủ. Thông minh, can đảm và rất thận trọng. Đây là giống chó khá bướng bỉnh nên cần có sự dạy dỗ chu đáo từ khi còn nhỏ. Đây là một trong những giống chó bảo vệ tốt nhất. Các bà mẹ người Nhật thường giao cho chúng nhiệm vụ trông coi những đứa con của mình. Akita là giống chó trung thành và rất quyến luyến với chủ. Tuy vậy chúng rất hung dữ đối với các con chó và vật nuôi khác, vì vậy phải luôn cảnh giác để tránh đụng độ. Tốt nhất là khi ra ngoài cần cho chúng đeo rọ mõm. Khi bị trêu chọc, chúng có thể cắn.

Giống chó này có tính sở hữu rất cao. Cần có sự dạy dỗ hết sức kiên trì vì Akita có khả năng tư duy độc lập. Điều này có nghĩa là chúng sẽ ít khi nghe theo những mệnh lệnh mà chúng coi là vô lý.Akita rất thích sự chăm sóc của gia chủ. Giọng của chúng có nhiều âm thanh rất hay, tuy vậy không phải là loại chó thích sủa. Đây là giống chó có thể sống trong điều kiện căn hộ nếu có không gian dành cho nó tập luyện. Chúng có mức độ hoạt động trong nhà vừa phải và thoải mái nhất khi ở không gian rộng như là sân vườn. Rất cần chăm sóc bộ lông. Chúng rụng lông rất nhiều, hai lần trong năm. Cần chải lông bằng bàn chải chuyên dụng. Chỉ tắm khi thật cần thiết vì có thể làm rụng lớp lông không thấm nước bên ngoài. (Nguồn Wiki)

#7 BEAGLE

Chó săn thỏ (beagle) là một giống chó nhỏ trong các chó săn và chuyên dùng để săn thỏ, chúng dễ nhận biết bởi bộ lông tam thể mềm mượt đặc trưng. Chúng rất dễ nuôi, thân thiện và đáng yêu với con người, có thể vừa trông nhà, vừa chơi đùa cùng trẻ con trong nhà. Khi được nuôi thả tự do, chúng thích đi khám phá mọi thứ nhờ vào chiếc mũi thính của mình. Chữ beagle vốn xuất phát từ “be’geule”, chỉ thói quen reo hú của loài này sau những buổi đi săn. Chúng cũng rất thân thiện, dễ dàng làm quen với con người cũng như những con chó khác.

Đây là một giống chó săn khá phổ biến, có đôi chút giống chó săn chân lùn (Basset hound) cả trong sự xuất hiện cũng như trong tính khí. Nguồn gốc của nó chưa được rõ ràng, cho dù chúng đã được nuôi tại Anh quốc trên 500 năm. Giống chó này có thể bắt nguồn từ lai tạo giữa giống Harrier và giống chó săn Anh khác. Beagle thường dùng để đi săn theo đàn, cũng có thể dùng một, hoặc một cặp chó để săn thỏ rừng, gà lôi và chim cút. Nó cũng được dùng như một loài chó phát hiện ma tuý tốt và là người tốt của gia đình. Do chúng khá đồng nhất trong kích thước, ở một kích thước nhỏ bé vừa phải, Beagle thường được dùng để thử nghiệm thuốc. Chúng được phân loại là chó săn loại nhỏ. Giống chó Beagle đã chứng tỏ khả năng thích ứng rất cao. Tại Anh quốc, chúng được sử dụng để săn thỏ, trong khi đó, tại Sri Lanka, chúng được cho săn heo rừng.

Là giống chó săn nhỏ, có thân hình vuông vắn, vững chắc, khoẻ mạnh. Giống Beagle trông giống như những con chó săn cáo Anh Quốc cỡ nhỏ. Chiều cao con đực từ 36 – 41 cm (14 – 16inches), con cái từ 33 – 38 cm (13 – 15inches). Có hai nhóm chiều cao, từ 33 – 38 cm, và dưới 33 cm.Cân nặng của con đực từ 10 – 11 kg (22 – 25pounds), con cái từ 9 – 10 kg (20 – 23pounds). Giống chó này được nuôi với số lượng quá nhiều và với một số dòng chó, thể trạng và tính tình của chúng đã bị ảnh hưởng do việc lai tạo thiếu kiểm soát phát sinh từ việc nuôi quá nhiều này. Tuổi thọ chúng khoảng 12 – 15 năm, số chó con từ 2 – 14 con. Trung bình là 7 con. Có vài dòng thuộc giống Beagle có khả năng đau tim, chứng động kinh, các vấn đề về mắt và lưng. Cũng có thể bị các chứng bệnh liên quan đến xương, sụn, hồng cầu, gây còi cọc và biến dạng về xương, chẳng hạn như ở chân trước giống như giống chó săn chân lùn.

Giống Beagle có bộ lông ngắn, bóng mượt và dễ chăm sóc, nó có thể gồm bất cứ màu lông thông thường nào của chó săn, như tam thể, đen và nâu vàng, đỏ và trắng, vàng cam và trắng, hoặc màu vàng xanh sẫm và trắng. Bộ lông sát với người, cứng và có độ dài trung bình. Xương sọ rộng và hơi tròn, mõm thẳng, vuông vắn. Bàn chân tròn và chắc khỏe, cứng cáp. Mũi đen với lỗ mũi rộng để đánh hơi. Hai tai dài, rộng và nhô ra bên đầu. Mắt màu nâu hoặc màu nâu đỏ luôn biểu lộ sự cầu khẩn, xin xỏ. Đuôi của Beagle lúc nào cũng như đang vui mừng, nhưng đuôi không bao giờ cong lên trên lưng. Khi đi săn, Beagle có một giọng tru và tiếng sủa rất riêng biệt. Tiếng sủa của Beagle có thể đem lại niềm vui thích cho người thợ săn, nhưng lại làm phiền gia đình và những người hàng xóm. Beagle có khuynh hướng đi theo những gì chúng đánh hơi thấy.

Beagle là một trong những giống chó săn đánh hơi phổ biến, bởi sinh lực, sự luôn sẵn sàng, tính tình vui vẻ và dịu dàng của chúng. Beagle là giống chó lịch thiệp, dịu dàng, hiếu động và cũng rất hiếu kỳ, thích gần gũi và quý mến mọi người. Là một dòng chó nhỏ với cái đuôi tinh nghịch. Thân thiện, dũng cảm và thông minh. Ôn hoà và đáng yêu, đặc biệt là với trẻ con và tử tế với các con chó khác, nhưng không nên phó mặc chúng với các loài vật nuôi khác, trừ khi chúng được làm quen với mèo và các con vật nuôi trong nhà từ khi còn nhỏ. Chúng quyết đoán, thận trọng. Giống chó này không thích ở một mình. Chúng có thể mải mê với cuộc thám hiểm riêng của mình nếu được cởi bỏ dây xích trong vùng không có rào chắn.

Cẩn thận khi lựa chọn con Beagle. Beagle có thể nuôi trong điều kiện chung cư, nhà tầng, nếu cho chúng nhiều cơ hội để được ra ngoài. Chúng rất năng hoạt động trong nhà, và một mảnh sân nhỏ cũng là đủ với chúng. Đầy nghị lực, sở hữu một khả năng chịu đựng cao, Beagle cần nhiều bài luyện tập, bao gồm đi dạo trong thời tiết mát mẻ. Chúng nên có một khoảng sân có rào chắn với kích thước hợp lý để nô đùa. Phải luôn dùng dây xích khi đi dạo với chúng, nếu không sẽ gặp rủi ro nếu chúng biến mất vì mải chạy đuổi theo những con vật nhỏ nào đó chúng gặp trên đường.

Lông của Beagle ngắn và mượt nên dễ chăm sóc, tắm bằng xà bông có chất tẩy rửa nhẹ khi cần thiết. Đôi khi cần lau người cho chúng bằng dầu gội khô. Phải kiểm tra tai chúng thường xuyên và thật cẩn thận để tránh nhiễm trùng và phải cắt ngắn móng chân cho chúng. Giống chó này có mức độ rụng lông trung bình. Ngay từ nhỏ, chúng cần được kiên trì huấn luyện, như vậy mới có thể đảm bảo khi tháo xích cổ cho chó, có thể gọi chúng quay về một cách dễ dàng. (Nguồn: Wiki)

#8 Golden Retriever

Golden Retriever là giống chó có kích thước trung bình. Thuộc họ nhà chó ưa hoạt động, chơi đùa, chúng rất trung thành và thông minh. Chúng còn có tên gọi khác là chó săn mồi hoặc chó tha mồi. Golden Retriever là loài chó có bản năng truy tìm và phát hiện con mồi rất nhạy bén nên có thể làm chó đặc vụ để dò tìm Ma túy,… Đặc điểm chung của loài này là rất hiền lành và thông minh, trung thành và thích chơi đùa.

Golden Retriever được lai tạo ra đầu tiên tại các hòn đảo Anh quốc. Nguồn gốc của chúng có lẽ là sự pha trộn, phối giống giữa các giống Retriever lông vàng thẳng, Tweed Water Spaniels lông ngắn, các giống spaniels, setters khác và thậm chí là giống Newfoundland và Bloodhound.

Trên thực tế là giống chó này được giới thiệu lần đầu tiên với tên gọi là Golden Flat-Coat. Ngày nay, đây là giống chó bầu bạn phổ biến nhất trong các gia đình trên toàn thế giới. Trong các cuộc thi tại nhiều quốc gia trên thế giới đã có rất nhiều những chú chó thuộc giống Golden Retriever đoạt giải quán quân.

Golden Retriever là giống chó loại nhỡ có thân hình cân đối, khỏe mạnh. Chúng có bộ lông màu từ vàng kem đến vàng nâu (màu đỏ không được công nhận). Bộ lông được cấu tạo bởi lớp lông không thấm nước bên ngoài và một lớp lông mịn dày bên trong. Chúng có cái đầu to, mõm hơi vát nhưng kèm với bộ hàm rộng và rất khỏe cùng với hàm răng sắc bén. Mũi có màu đen, mắt biểu cảm màu nâu với viền sẫm. Đôi tai cỡ nhỡ, cụp. Cổ dài, khỏe và khá cơ bắp. Ngực rộng. Đuôi dài và không bao giờ cong.

Giống chó này còn được biết đến như những người giúp việc cừ khôi cho những thợ săn chim và vịt trời. Chúng có khả năng đánh hơi cực tốt và vì thế thường được sử dụng không chỉ cho các cuộc săn hoặc tìm dấu vết mà còn được trang bị cho các đơn vị quân đội, cảnh sát để phát hiện ra ma túy.

Ngoài ra, một trong những ưu điểm nữa của giống chó này là luôn mong muốn làm hài lòng chủ nhân, khả năng học hỏi và tình yêu con người đã biến chúng trở thành những người giúp việc tận tụy cho người mù và những người tàn tật khác.

Đây là loài chó rất thông minh, luôn cư xử đúng mực và rất yêu chủ. Chúng dễ dạy dỗ và luôn tỏ ra kiên nhẫn và dịu dàng đối với trẻ nhỏ. Trung thành, tin cậy, dễ bảo và luôn tìm cách làm vừa lòng chủ nhân là các đức tính của Golden Retriever.

Đây là giống chó ưa thích các hoạt động ngoài trời. Nhờ có trí thông minh nên chúng luôn tỏ ra xuất sắc trong các cuộc thi tài. Golden Retriever luôn tỏ ra thân thiện với tất cả mọi người, kể cả các cá thể chó khác. Chính vì vậy nên giống chó này chỉ có rất ít bản năng bảo vệ.

Nhưng chúng có thể là người trông nhà tốt, thường cất tiếng sủa rất to khi có người lạ xuất hiện. Giống chó này luôn cần có sự quan tâm của mọi người xung quanh.

Nếu bị cách ly hoặc xa chủ trong thời gian dài, chúng có thể trở nên tai quái. Các tài năng chính của giống chó này là đi săn, dò dấu vết, nhặt đồ, phát hiện ma túy, thi đấu và diễn trò. Ngoài ra, chúng còn rất thích bơi lội. (Nguồn: Wiki)

#9 SIBERIAN HUSKY

Chó Husky Sibir (Tiếng Nga: сибирский хаски, “Sibirsky hasky”, Phiên âm: “hât-s-ki”)  là một giống chó cỡ trung thuộc nòi chó kéo xe có nguồn gốc từ vùng Đông Bắc Sibir, Nga. Xét theo đặc điểm di truyền, chó Husky được xếp vào dòng Spitz. Chó Husky có hai lớp lông dày, tai dựng hình tam giác và thường có những điểm nhận dạng khác nhau trên lông.

Chó Husky là giống chó rất ưa thích vận động do tổ tiên của chúng sống ở một trong những nơi lạnh giá nhất như Siberia, ở đây chó Husky nguyên thủy được phối giống bởi người Chukchi ở Đông Bắc Á nhằm mục đích kéo xe hàng trên một quãng đường dài trong điều kiện lạnh giá khắc nghiệt. Giống chó này được đưa tới Alaska trong thời kì khai thác vàng ở Nome rồi sau đó trở nên phổ biến ở Hoa Kỳ và Canada. Ban đầu Husky được nuôi để làm chó kéo xe nhưng về sau chúng trở thành thú nuôi trong gia đình.

Các giống chó Husky Sibir, Samoyed, và Alaskan Malamute đã được công nhận đều có chung nguồn gốc từ một giống chó cổ đại theo kết quả ADN công bố năm 2004. Từ năm 1908, chúng được du nhập vào Alaska trong thời kỳ khai thác vàng và được sử dụng là chó kéo xe và chó đua xe. Ở đây, xe kéo bởi vì chó Husky nhanh chóng trở thành phương tiện phổ biến lúc bây giờ. Năm 1930, việc xuất khẩu chó ở Siberia bị dừng lại, cũng là năm mà “câu lạc bộ chó giống Mỹ (AKC) công nhận giống chó Husky Sibir. Chín năm sau, giống chó này lần đầu tiên được đăng kiểm ở Canada. Năm 1938 United Kennel Club công nhận giống chó “Husky Bắc Cực” và đổi tên thành Husky Sibir vào năm 1991 cho tới nay. Giống chó Husky nguyên thủy được nuôi và phối giống bởi người Chukchi được cho là đã tuyệt chủng nhưng một phóng viên của tạp chí “Geographical magazine” vào năm 2006 đã đưa ra báo cáo chúng còn sống sau chuyến công tác của anh tại Siberia.)

Lông của giống Husky dày hơn đa phần lông các giống chó khác gồm 2 lớp, một lớp lông dày và ngắn lót phía trong và một lớp lông mỏng hơn, dài hơn bao phủ bên ngoài giúp bảo vệ chúng khỏi cái lạnh khắc nghiệt vùng băng giá. Chúng có thể chịu được cái lạnh từ −50 đến −60 °C (−58 đến −76 °F). Chó husky thay lông tơ thường xuyên, nếu sống cùng con người thì cần chải lông hàng tuần.

Chó Husky Sibir có rất nhiều màu lông khác nhau nhưng hầu hết sẽ có chân, mõm, đốm cuối đuôi là lông trắng. Thường gặp nhất là Husky có màu lông đen-trắng, sau đó là nâu (đỏ)- trắng, xám (phấn) – trắng, trắng, và màu lông hiếm “agouti”.

Mắt chó Husky hình quả hạnh nhân đặt cách nhau vừa phải và hơi xếch lên. Màu mắt cũng đa dạng như xanh da trời, xanh nước biển, màu hổ phách, xanh lá cây, hoặc nâu. Một số con có thể có 2 mắt với mỗi mắt là một màu khác nhau. Cũng có thể có một hoặc cả 2 mắt có màu pha trộn (parti-colored) nửa xanh nửa nâu. Tất cả những màu mắt nêu trên đều được chấp nhận là mắt của Husky “thuần chủng”.

Xếp theo màu lông, chó lông xám thì mũi có màu đen, lông đen thì có mũi nâu, lông nâu thì có mũi đỏ xẫm, và lông trắng thì mũi màu xám nhạt

Đuôi của chó Husky dài và rất rậm lông, chúng thường hay cụp đuôi nếu không có hoạt động, khi chạy nhảy hoạt động chúng thường uốn cong đuôi lên lưng để cơ thể có thêm độ ấm. Đây cũng là đặc điểm chung của một số giống chó có nguồn gốc từ xứ lạnh như Akita, Alaskan Malamute hay Samoyed. Khi ngủ chó Husky sẽ vòng đuôi qua mõm để giữ ấm cho mũi như trong ảnh. Chúng sẽ hạ thấp đuôi khi thư giãn và dựng cong đuôi khi phấn khích hoặc tò mò.

Chó Husky được xem là có ngoại hình và hành vi giống với tổ tiên của chúng là loài chó sói. Chúng thích liên lạc, giao tiếp với bằng cách hú hơn là sủa. Chúng có xu hướng đi lang thang và tìm cách trốn thoát sự tù túng. Chó Husky được xem là bậc thầy đào tẩu, chúng có thể đào hầm phía dưới, gặm nát, hoặc nhảy qua hàng rào cao.

Đây là giống chó thân thiện với trẻ em, người Chukchi còn sử dụng chó Husky như người bảo vệ con cái của họ. Vì là giống chó có nhiều năng lượng nên đa phần có dấu hiệu tăng động, phá phách khi sống nuôi nhốt trong nhà chật hẹp nên cần có phương pháp tập luyện nghiêm ngặt hơn so với những giống chó khác. Chúng có thể sẽ đuổi theo mèo, thú nhỏ một khoảng cách rất xa và đi lạc, sẽ rất nguy hiểm nếu chúng sống ở một số quốc gia có nạn bắt trộm chó phổ biến như Trung Quốc hay Việt Nam nên dây dắt là công cụ cần thiết khi đi ở ngoài. Ngoài ra tính bầy đàn của Husky rất mạnh nên chúng thích sống chúng với những con chó khác, hoặc người chủ nên thường xuyên ở bên cạnh. Chó Husky sẽ hú khi nó cảm thấy bị bỏ rơi hay cô đơn. Chó Husky thích chạy vì đó là bản năng của chúng. Theo lời khuyên của các chuyện gia, người nuôi chó Husky nên cho chúng chạy ít nhất 2 lần/ ngày để rút bớt năng lượng của chúng, hạn chế sự phá phách trong nhà. Chó Husky đứng thứ 45 trong bản xếp hạng những giống chó thông minh nhất. (Nguồn: Wiki)

#10 POMERANIAN

Chó Phốc sóc (Pomeranian gọi tắt là Pom) là một giống chó cảnh cỡ nhỏ, có ngoại hình xinh xắn, có nguồn gốc từ châu Âu, chúng nổi tiếng và được ưa chuộng bởi ngoại hình bắt bắt của mình. Với tiếng sủa vang rền, dai dẳng không dứt khả năng cảnh giác cao độ, những con chó này lại có thể trở thành những chon canh giữ cửa tốt. Những ưu điểm khác của giống chó Pom như trông nhà, rất lanh lợi và có thể biểu diễn được những kĩ xảo nhỏ trong điều kiện được luyện tập

Chó Pom được lấy tên từ địa danh Pomerania là vùng đất ở Trung Âu ngày xưa, ứng với miền Tây Bắc Ba Lan và Đông Bắc Đức ngày nay và nguồn gốc của chúng là từ giống Spitz cổ. Lúc đầu, những con chó Pom to hơn hiện nay nhiều với cân nặng có khi lên đến khoảng 13 kg và hay được giao cho nhiệm vụ chăn cừu. Vào năm 1988, Nữ hoàng Victoria đã nhân giống loài chó này và chính bà đã khiến kích cỡ của chúng nhỏ lại và nhờ thế chúng bắt đầu trở nên rất phổ biến ở Anh.

Chó Pom là giống chó cỡ nhỏ, kích thước chỉ cỡ bằng một món đồ chơi, Chiều cao từ 7-12 inches (18–30 cm), trọng lượng từ 3-7 pounds (1–3 kg), chúng có cái đầu hình nêm và rất cân xứng với cơ thể, một số con có gương mặt giống như loài cáo, một số con khác lại giống như búp bê. Đôi mắt chúng hình quả hạnh, to vừa phải và có màu sẫm, trông rất sáng và thể hiện rõ sự linh lợi và thông minh. Tai chó Phốc sóc nhỏ nhắn, nhọn dựng thẳng trên đầu, hàm răng hình kéo và cái mũi be bé sẽ cùng màu với bộ lông. Chúng có cái đuôi xù, trông rất mềm mại và uốn cong lên lưng. Giống chó này cũng có bộ lông kép dày với lớp ngoài dài, thẳng và hơi cứng còn lớp trong thì ngắn, mềm và dày. Lớp lông ở vùng cổ và ngực chúng sẽ dài hơn. Nhìn chung trông chúng nhỏ nhắn xinh xắn, ấm áp và mềm mại. Màu lông của chúng cũng khá đa dạng: có thể là màu đỏ, cam, kem, trắng, xanh, nâu, đen…

Chó Pom cũng thuộc một giống chó khó tính trong việc ăn uống, chúng khá kén ăn. Chó Pom rất hay bị rụng lông (lớp ngoài) và lớp lông mềm ở dưới của chó Pom sẽ rụng một đến hai lần một năm. Chó Pom có xu hướng bị trật xương khớp gối, khuỷu chân sau, bệnh tim, viêm nhiễm mắt, sâu răng và bị rụng răng sớm. Nên cho chó Pom ăn thức ăn khô dành cho chó và xương sữa cứng giòn để có thể giúp răng và lợi chúng khỏe hơn. Những con chó Pom mẹ có kích cỡ nhỏ thường được cho sinh mổ. Và giống chó này khi về già cũng có thể phải đối mặt với vấn đề rụng lông và hói. Tuy nhiên, vì lớp lông xù dày nên chủ nuôi cũng cần phải cẩn thận để tránh chúng bị quá nóng. Thường xuyên chải lông cho những chú chó Pom vì chúng có bộ lông hai lớp rất dày và nên dùng dầu gội khô khi cần thiết.

Chó Pom tuy nhỏ bé nhưng tính cách thật sự rất sôi nổi và sống động. Chúng rất thông minh, ham học hỏi và trung thành, tò mò và hiếu động. Tuy tinh nghịch như vậy, nhưng bản tính của chó Pom lại khá dễ bảo và tình cảm, chính vì thế, chúng có thể là người bạn đồng, cũng có thể là một diễn viên xiếc tài năng. Chó Pom cũng khá độc lập, thuộc kiểu nhí nhảnh tự chơi tự vui nên đây là giống chó ít cần đồ chơi. Nên huấn luyện ngay từ đầu, để tránh chúng sủa dai dẳng không dứt. Nếu được dạy dỗ chu đáo thì giống chó này không hề gặp rắc rối gì trong việc hòa thuận với các vật nuôi khác trong nhà. Chúng khá thân thiện nhưng không bám dính chủ nhân. Là loại chó bầu bạn tốt với người cao tuổi.

Giống chó này bị xếp vào một trong những giống chó dễ mắc Hội chứng chó nhỏ (Small Dog Syndrome) đây là hội chứng mà những chú cún nhỏ xinh xắn sẽ rất khó chiều, hay yêu sách và nghĩ rằng mình mới là chủ của con người. Khi chó Pom đã mắc hội chứng này rồi thì không còn là dễ thương hay thông minh mà dẫn đến những vấn đề vô cùng lớn, những dấu hiệu mắc bệnh đầu tiên khi khi hành vi của chúng đã bị ảnh hưởng quá nhiều và có những đặc tính không hề thuộc về giống chó Pom xuất hiện như rất khó tính, đôi khi lại hay lo lắng, bướng bỉnh, liều lĩnh và dám cả gan tấn công cả những chú chó lớn hơn.

Chó Pom có thể thích nghi vô cùng tốt với cuộc sống trong những căn hộ không có sân vì ở trong nhà chúng cũng có thể rất vui vẻ và sống động. Hoạt động Thể Chất Phù Hợp Như hầu hết các giống chó khác, chó Pom cũng cần được dẫn đi bộ hằng ngày. Dù chơi đùa cũng đã có thể là những bài tập thể dục khá tốt cho giống chó này, nhưng bản năng của chúng vẫn là đi bộ, nếu không thì sẽ dễ gặp những bệnh về hành vi và cách cư xử. Nên dẫn chúng đến những nơi rộng rãi, thoáng mát để chúng có thể tự do và thả lỏng bản thân một chút. (Nguồn: Wiki)

Add a Comment

Your email address will not be published.